- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS Phan Hoàng H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2021/HS-ST Ngày 03-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Tấn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Phước
Ông Hà Văn Châu
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương-Kiểm sát viên.
Ngày 03-6-2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2021/TLST-HS ngày 11-5-2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QXXST-HS ngày 21-5-2021 đối với bị cáo:
Phan Hoàng H (có tên gọi khác là L), sinh năm 1979 tại Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp 3, thị trấn L, Hện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Tài xế; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Con ông Phan Văn K và bà Trần Thị Mỹ L ; Có vợ tên Hồ Ngọc H và 02 con, lớn 12 tuổi và nhỏ 16 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ cHển tạm giam từ ngày 05-02-2021 cho đến nay. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 05-02-2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà Số 313 đường A, Khóm 1, Phường 3, thành phố S, có đối tượng nghi vấn tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy nên Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Ma túy-Công an thành phố S kết hợp với Phòng Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Ma túy-Công an tỉnh Sóc Trăng và Công an Phường 3, thành phố S tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà nêu trên. Qua kiểm tra bên trong căn nhà, phát hiện 01 bịch nylon trong, có một đầu kín, còn một đầu có kẹp bóp viền màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng được để ở khe giữa mái tol và đầu cột bê tông phía trong bên phải nhà vệ sinh và phát hiện 01 bịch nylon được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng được để trong hộp nhựa màu vàng để trên tủ nhôm kiếng đối diện nhà bếp, nghi vấn là ma túy nên Công an đã tiến hành bắt giữ H cùng vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 22/GĐMT-PC09 ngày 08-02-2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự-Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Gói 01: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,2029 gam, loại Methamphetamine; Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,1213 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Điều tra, Phan Hoàng H khai nhận: căn nhà Số 313 đường A, Khóm 1, Phường 3, thành phố S là H thuê của bà Hồ Ngọc Y vào khoảng đầu tháng 9-2020 để ở. Vào ngày 29-01-2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đã liên lạc với người đàn ông nhưng không rõ họ tên và địa chỉ để hỏi mua 3.200.000 đồng ma túy đá và được người đàn ông này đồng ý bán. Địa điểm gặp giao và nhận ma túy là Bến xe L, Phường 3, thành phố S. Sau khi có được ma túy, H đem về lấy ra sử dụng một ít, số ma túy còn lại H chia ra làm 02 phần cất giấu. Đến ngày 05-02-2021, Công an kiểm tra bắt quả tang và thu giữ 02 bịch ma túy.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKS-TPST ngày 10-5-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố S đã truy tố bị cáo Phan Hoàng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phan Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c Khoản 2, điểm a Khoản 3 của Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số 22/GĐMT-PC09 ngày 08-02-2021 của Phòng KTHS CAST có chữ của GĐV Phạm Thanh Trường Sơn; 01 bình thủy tinh phía trên có gắn ống hút nhựa và gắn ống thủy tinh; 01 hộp nhựa màu đen; 01 hột quẹt màu trắng; 01 hộp nhựa màu vàng; 05 ống nhựa màu trắng không đo kích thước; 05 ống thủy tinh không đo kích thước có một đầu tròn (nỏ); 80 ống thủy tinh không đo kích thước; 24 bịch nylon trong suốt một đầu kẹp bóp có viền màu đỏ; 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 đọan ống nhựa màu vàng một được hàn kín và một đầu nhọn không đo kích thước cùng 1 bịch nylon một đầu được hàn kín.
Trả lại cho bị cáo Phan Hoàng H: 01 điện thoại di động màu đen có chữ Iphone đã được niêm phong ký hiệu Iphone; 01 điện thoại di động màu đen có chữ Nokia đã được niêm phong ký hiệu Nokia; tiền Việt Nam là 1.440.000 đồng.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo Phan Hoàng H đã khai nhận:
Bị cáo là người nghiện ma túy và bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017 cho đến ngày bị bắt, loại ma túy sửa dụng là ma túy đá. Nguồn ma túy có được để bị cáo sử dụng là do bị cáo mua của người đàn ông tại khu vực Bến xe L, Phường 3, thành phố S từ 10 đến 15 lần, mỗi lần mua 01 bịch ma túy giá từ 3.000.000 đông đến 3.200.000 đồng rồi đem về cất giấu để sử dụng. Còn căn nhà Số 313 đường A, Khóm 1, Phường 3, thành phố S là bị cáo thuê của bà Hồ Ngọc Y vào khoảng đầu tháng 9-2020 để ở. Vào ngày 29-01-2021, bị cáo đã liên lạc với người đàn ông bán ma túy tại khu vực Bến xe L, Phường 3, thành phố S để hỏi mua 3.200.000 đồng ma túy đá thì người đàn ông này đồng ý bán và hẹn địa điểm giao nhận ma túy là Bến xe L, sau khi mua ma túy xong thì bị cáo đem về lấy một ít ra sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo phân ra 01 bịch ở khe giữa mái tol với đầu cột bê tông phía trong bên phải nhà vệ sinh và 01 bịch để trong hộp nhựa màu vàng để trên tủ nhôm kiếng đối diện nhà bếp. Đến ngày 05-02-2021, Công an kiểm tra bắt quả tang và thu giữ 02 bịch ma túy là của bị cáo.
. Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng khác cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Đối với bị cáo Phan Hoàng H đã mua 01 bịch ma túy đem về cất giấu rồi phân ra từng bịch nhỏ nhằm mục đích sử dụng, qua giám định là Methamphetamine, có khối lượng là 0,3242 gam. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phan Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng của vụ án như sau:
Đối với gói niêm phong số đựng ma túy; bình thủy tinh; hộp nhựa; hột quẹt; ống nhựa; ống thủy tinh; bịch nylon; 01 đọan ống nhựa là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật dùng để sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động Nokia và 01 điện thoại di động Iphone; tiền Việt Nam là 1.440.000 đồng là của bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả cho bị cáo.
. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo do không biết họ tên và địa chỉ cụ thể nên cơ quan Điều tra chưa làm việc được. Đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố: Bị cáo Phan Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt bị cáo Phan Hoàng H 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 05-02-2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Xử lý vật chứng theo Phiếu nhập kho số NK071 ngày 10-5-2021 của Chi cục Thi hành Dân sự thành phố S, tỉnh Sóc Trăng như sau:
Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số 22/GĐMT-PC09 ngày 08-02-2021 của Phòng KTHS CAST có chữ của GĐV Phạm Thanh Trường Sơn; 01 bình thủy tinh phía trên có gắn ống hút nhựa và gắn ống thủy tinh; 01 hộp nhựa màu đen; 01 hột quẹt màu trắng; 01 hộp nhựa màu vàng; 05 ống nhựa màu trắng không đo kích thước; 05 ống thủy tinh không đo kích thước có một đầu tròn (nỏ); 80 ống thủy tinh không đo kích thước; 24 bịch nylon trong suốt một đầu kẹp bóp có viền màu đỏ; 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 đọan ống nhựa màu vàng một được hàn kín và một đầu nhọn không đo kích thước cùng 1 bịch nylon một đầu được hàn kín.
Trả lại cho bị cáo Phan Hoàng H: 01 điện thoại di động màu đen có chữ Iphone đã được niêm phong ký hiệu Iphone; 01 điện thoại di động màu đen có chữ Nokia đã được niêm phong ký hiệu Nokia; tiền Việt Nam là 1.440.000 đồng.
3. Về án phí: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải nộp là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố S; - Công an thành phố S; - CQTHAHS–Công an TPST; - Đội Tổng hợp-Công an TPST; - Chi cục THADS TPST; - UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Tấn Vinh |