- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Trường S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Trường S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2021/HS-ST Ngày: 23 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thúy Mai
Ông Dương Đức Bản
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2021/TLST - HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Ngọc Trường S, sinh ngày 14/9/2000 tại Quảng Bình. Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố X, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Tạm trú: Tổ dân phố A phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên. Con ông: Trần Ngọc L, sinh năm 1972 và bà: Trần Thị N, sinh năm 1976. Hiện ông, bà trú tại: Tổ dân phố X, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Gia đình có 2 chị em, S là con út trong gia đình, chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 26/3/2021, tại trước số nhà 01 đường H thuộc tổ dân phố 02, phường N, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Đ phối hợp với Công an phường N tuần tra, phát hiện bắt quả tang Trần Ngọc Trường S đang cầm trên tay trái 01 túi nilon bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu hồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Sơn tại phòng trọ thuộc tổ dân phố A, phường B tiếp tục thu giữ thêm 01 túi nilon bên trong chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng. Sơn khai nhận toàn bộ số viên nén màu hồng trên là ma tuý loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Nguồn gốc số ma túy: Ngày 24/3/2021, Trần Ngọc Trường S đến chợ N mua của một nam thanh niên không quen biết 01 túi nilon bên trong chứa 14 viên nén ma tuý loại hồng phiến với giá 270.000 đồng. Sau khi mua được ma túy S mang về cất giấu ở phòng trọ của mình. Ngày 26/3/2021 S chia số ma túy trên ra 02 túi nilon, túi 04 viên S cất giấu ở phòng trọ, túi 10 viên S mang đi tìm nơi để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 485/GĐ-PC09 ngày 01/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 10 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng là ma túy loại Methamphetamine (mẫu ký hiệu A1) khối lượng 0,972 gam. Hoàn trả sau giám định 0,882 gam; 04 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng là ma túy loại Methamphetamine (mẫu ký hiệu A2) khối lượng 0,384 gam. Hoàn trả sau giám định 0,257 gam.
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ: 14 viên nén dạng thuốc tân dược hình tròn màu hồng là ma túy Methamphetamine khối lượng 1,356 gam. Hoàn trả sau giám định 1,139 gam; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng BKS 73F1-532.79.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSĐH-MT ngày 25 tháng 6 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Ngọc Trường S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Trần Ngọc Trường S đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: đề nghị xử phạt Trần Ngọc Trường S từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Trước khi bị bắt Trần Ngọc Trường S là sinh viên, hiện bị cáo không có công việc, không có thu nhập. Việc bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cá nhân, không vì mục đích khác nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì số 485/GĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, trên phong bì niêm phong có ghi chữ “Mẫu ký hiệu A1 và A2” hoàn trả sau giám định, bên trong chứa 0.882 gam Methamphetamine mẫu ký hiệu A1; 0,257 gam Methamphetamine mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói. Trả lại cho Trần Ngọc Trường Sơn 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng BKS 73F1-532.79. Án phí bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Ý kiến bị cáo Trần Ngọc Trường S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy đúng như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Ngọc Trường S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 26/3/2021, tại trước số nhà 01 đường Hà Huy Tập thuộc tổ dân phố 02, phường N, Trần Ngọc Trường S bị lực lượng Công an bắt quả tang đang tàng trữ 10 viên ma túy loại Methamphetamine. Khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của S ở tổ dân phố A, phường B thu giữ 04 viên ma tuý Methamphetamine. Tổng 14 viên ma tuý có khối lượng 1,356 gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Tại bản Kết luận giám định số 485/GĐ-PC09 ngày 01/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 10 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng là ma túy loại Methamphetamine (mẫu ký hiệu A1) khối lượng 0,972 gam; 04 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng là ma túy loại Methamphetamine (mẫu ký hiệu A2) khối lượng 0,384 gam. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Ngọc Trường S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
Xét tính chất nguy hiểm, mức độ, hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây nên những hậu quả xấu về nhiều mặt, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bị cáo Trần Ngọc Trường S là người đã trưởng thành, có nhận thức xã hội và hiểu biết pháp luật, nhưng do thiếu ý thức, xem thường pháp luật nên đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt mức án nghiêm và cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Hiện bị cáo Trần Ngọc Trường S đang bị tạm giam nên tiếp tục tạm giam theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Ngọc Trường S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc Trường S đã có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tích cực hợp tác với Công an huyện Bh trong việc tố giác tội phạm, phát hiện tội phạm mới; có thành tích cứu hộ trong đợt lũ năm 2020; gia đình có ông Nội được tặng thưởng Huân chương hạng nhì. Bởi vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có công việc, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án là phong bì niêm phong số 485/GĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, có ghi chữ “Mẫu ký hiệu A1 và A2” hoàn trả sau giám định, bên trong chứa 0.882 gam Methamphetamine mẫu ký hiệu A1; 0,257 gam Methamphetamine mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói. Đây là ma tuý thuộc loại Nhà nước cấm, nên cần áp dụng các quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng BKS 73F1-532.79 là tài sản cá nhân thuộc sở hữu của Trần Ngọc Trường S, tuy nhiên bị cáo không dùng làm phương tiện phạm tội nên cần trả lại tài sản nói trên cho bị cáo.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới đã tiến hành xác minh đối tượng bán ma túy cho S nhưng không xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Trần Ngọc Trường S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Trường S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2.Về điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
2.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Trường S 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/3/2021.
Tiếp tục tạm giam Trần Ngọc Trường S 33 (Ba mươi ba) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/8/2021) để đảm bảo thi hành án.
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đã được niêm phong số 485/GĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, trên phong bì niêm phong có ghi chữ “Mẫu ký hiệu A1 và A2” hoàn trả sau giám định, bên trong chứa: 0.882 gam Methamphetamine mẫu ký hiệu A1; 0,257 gam Methamphetamine mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ vỏ bao gói.
- Trả lại cho Trần Ngọc Trường S 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng BKS 73F1-532.79.
(Vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/6/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới).
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Ngọc Trường S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/8/2021) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh. - VKSND tỉnh. - Sở Tư pháp QB. - VKSND thành phố Đồng Hới. - Công an thành phố Đồng Hới. - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới. - THA phạt tù. - Người tham gia tố tụng. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Phúc Nam |