- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn K - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2021/HS-ST Ngày: 06-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Nguyễn Trọng Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Bằng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 45/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 45/TB-TAH ngày 12/4/2021 đối với bị cáo:
Đinh Văn K – sinh năm 1967, tại Nam Định
Nơi cư trú: Ấp P.L, xã P.T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn M – sinh năm 1930 (đã chết) và bà Đinh Thị C– sinh năm 1935 (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị P – sinh năm 1974; có 02 (Hai) con, lớn nhất sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 08/8/2020, bị Công an xã P.T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với mức tiền phạt là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPVPHC; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 10/11/2020 đến ngày 10/01/2021, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Vắng mặt)
1/ Ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1966
Nơi cư trú: Ấp P.L 5, xã P.S, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
2/ Ông Trần Thanh H1 – sinh năm 1977
Nơi cư trú: Ấp P.L, xã P.T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
3/ Ông Doãn Văn T – sinh năm 1984
Nơi cư trú: Ấp P.Th, xã P.T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào buổi trưa ngày 05/9/2020, Đinh Văn K cùng ông Nguyễn Văn H, ông Doãn Văn T đến quán cà phê 78 do ông Trần Thanh H1 làm chủ (tại Ấp P.L, xã P.T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai) để uống rượu. Đến 15 giờ cùng ngày, sau khi uống rượu xong thì cả nhóm rủ nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Cách thức đánh bạc là sử dụng bộ bài tây 52 lá, chơi với hình thức bài phỏm. Cụ thể, H1 lấy 02 bộ bài tây 52 lá làm công cụ đánh bạc và sử dụng địa điểm nhà H1 để đánh bạc, thỏa thuận như sau: Chia bài thành 04 tụ, người chia được 10 lá, những người còn lại được 09 lá, phần bài còn lại để ở giữa, người chia đánh 01 lá đầu tiên xuống thì người ngồi bên phải có thể ăn nếu tạo thành phỏm (là 03 lá bài giống nhau trở lên hoặc 03 lá bài cùng chất liền nhau), nếu ai không ăn thì bốc bài ở dưới, đánh xoay vòng cho đến khi hết bài ở giữa bàn. Ván bài kết thúc khi có một người “ù” (là số bài trên tay sắp xếp thành phỏm và không thừa lá bài nào), nếu không ai “ù” thì sau bốn vòng đánh, người chơi hạ phỏm và tính điểm còn trên tay (tính điểm theo số thứ tự tương đương A=1, 2=2, …, 10=10, J=11, Q=12, K=13), người ít điểm nhất là người thắng. Quá trình đánh bài, ai ăn con bài của người đánh gọi là “gà”, khi kết thúc ván bài không có phỏm là “cháy”, người chơi phải đền tiền cho cả 03 nhà còn lại khi bị người chơi bên cạnh ăn 03 quân bài dẫn đến “ù”. Cách tính tiền “ù” là 50.000đ, “cháy” là 40.000đ, thua ba là 30.000đ, thu nhì là 20.000đ, thua nhất là 10.000đ, “gà 1” là 10.000đ, “gà 2” là 20.000đ, “gà 3” là 40.000đ. Đến 18 giờ 45 cùng ngày, khi Đinh Văn K cùng ông H1, ông H và ông T đang đánh bạc thì bị Công an xã P.T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật gồm 3.150.000 đồng, 02 bộ bài tây 52 lá. Quá trình điều tra, K cùng ông H1, ông H và ông T đều khai nhận hành vi đánh bạc trái phép.
Theo Cáo trạng số 42/CT-VKSTP-ĐN ngày 23/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Đinh Văn K về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận, phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, các tình tiết giảm nhẹ là điểm i, s khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo, điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” với mức án từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 3.150.000 đồng là công cụ, phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, đối với 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc và đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản phạm tội quả tang, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Vào lúc 18 giờ 45 phút ngày 05/9/2020 tại quán nước 78 do ông Trần Thanh H1 làm chủ (tại Ấp P.L, xã P.T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai), Đinh Văn K cùng ông Nguyễn Văn H, ông Doãn Văn T và ông H1 đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với hình thức bài phỏm, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 3.150.000 đồng thì bị Công an xã P.T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Đinh Văn K cùng ông H, ông T và ông H1 có hành vi đánh bạc với hình thức thuộc trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau, tổng số tiền đánh bạc là tổng số tiền của những người cùng đánh bạc theo hướng dẫn tại khoản 3, điểm a khoản 4 Điều 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, như vậy tổng số tiền đánh bạc là 3.150.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng). Đối với ông H, ông T và ông H1 thì chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc nên không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc. Đối với Đinh Văn K vào ngày 08/8/2020 bị Công an xã P.T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với mức tiền phạt là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), tuy đã đóng tiền phạt nhưng tính đến ngày 05/9/2020 thì K chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Hành vi của Đinh Văn K là hành vi đã phạm tội “Đánh bạc” tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra còn xem xét: Bị cáo trình độ học vấn thấp nên am hiểu pháp luật còn hạn chế. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quyết định hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, tệ nạn đánh bạc diễn ra ngày càng phức tạp và là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, đã thực hiện hành vi đánh bạc bất hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền để sung vào ngân sách Nhà nước cũng thỏa đáng, đủ tác dụng răn đe, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, đồng thời xem xét bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, đã bị áp dụng hình phạt chính bằng hình thức phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 3.150.000 đồng là công cụ, phương tiện phạm tội nên nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác: Ông Nguyễn Văn H, ông Doãn Văn T và ông Trần Thanh H1 có hành vi đánh bạc cùng với bị cáo Đinh Văn K, tổng số tiền đánh bạc là 3.150.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng) nhưng do ông H, ông T và ông H1 chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc nên không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, vì vậy Công an huyện Tân Phú đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo khác phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 321; Điều 35, khoản 1 Điều 46, Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội: “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn K 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
2. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với số tiền 3.150.000đ (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 002002 ngày 06/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 02 bộ bài tây 52 lá (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/4/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Bị cáo Đinh Văn K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |