- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!NINH!GIANG! !TỈNH!HẢI!DƯƠNG! !! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2021/HS-ST Ngày: 09/11/2021! ! ! |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!NINH!GIANG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!
Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Hà Xuân Trường
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"Ông Bùi Đức Thụy và ông Phạm Huy Điệu.
Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Hải Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Ninh"Giang,"tỉnh"Hải"Dương"tham"gia" phiên"tòa: Ông Nguyễn Trọng Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 09/11/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2021/TLST-HS ngày 13/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2021/QĐXXST-HS ngày 26/10/2021, đối với:
Bị! cáo:!LÊ!VĂN!H, sinh năm 1997 - Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.
Bị!hại: Chị Tống Thị T - sinh năm 2002 và chị Tống Thị M - sinh năm 1997
- Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng - Vắng mặt tại phiên tòa.
Người!làm!chứng:!Bà Phạm Thị M - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI!DUNG!CỦA!VỤ!ÁN!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Văn H (không" có" giấy" phép" lái" xe" mô"tô"theo" quy" định)"là công nhân công ty EVERVIET TOYS, có địa chỉ tại trạm thu phí số 2 Lê Thiện, huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/12/2020 sau khi tan ca, Lê Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34B1-782.18 đi một mình từ công ty về nhà tại xã V, huyện Ninh Giang theo hướng Quốc lộ 10 về thị trấn Ninh Giang. Trên đường ĐH01 từ thị trấn Ninh Giang về ngã ba cầu Me thuộc xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, H điều khiển xe mô tô ở phần đường bên phải theo chiều đi của mình, cách mép đường bên phải khoảng 1 mét; tốc độ khoảng 40-45km/h. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến gần khu vực ngã ba cầu Me, lúc này trời tối, không mưa, đường vắng, H bật xi nhan trái và cho xe di chuyển theo hướng chếch chéo sang phần đường bên trái để rẽ vào đường tỉnh lộ 396. Do không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên phần đầu xe mô tô của H va chạm với phần giữa xe mô tô BKS 16H2-8217 do chị Tống Thị T điều khiển chở theo chị Tống Thị M, di chuyển theo hướng ngược chiều từ cầu Me đi về thị trấn Ninh Giang đi sát mép đường bên phải theo chiều đi của mình. Làm xe mô tô của H, xe mô tô của chị T ngã đổ ra đường. Hậu quả: Lê Văn H và chị Tống Thị T, Tống Thị M đều bị thương phải đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện, hai xe mô tô bị hư hỏng.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương số 101a/TgT/HS ngày 04/5/2021 đối với Lê Văn H kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng trán thái dương, tụ máu nhu mô não, vỡ xương trán có di lệch, được điều trị nội khoa. Tình trạng ra viện toàn trạng ổn định, tỉnh, không liệt. Chấn thương hàm mặt gãy cung tiếp gò má phải, gãy xương chỉnh mũi, vỡ xương bướm, vỡ cánh lớn xương bướm hai bên, vỡ trần và thành ngoài ổ mắt hai bên, vỡ các thành xoang hàm, xoang sàng, xoang trán xoang bướm, xương đá trái gây tụ máu trong các xoang hàm mặt, đã mổ kết hợp xương hàm trên - gò má - ổ mắt trái. Chấn thương gây vỡ xương cánh chậu trái, đã điều trị nội khoa. 03 vết thương vùng trán trái, cung lông mày trái, bẹn trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 62%.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương số 101b/TgT/HS ngày 04/5/2021 đối với Tống Thị M kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não gây tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương – đỉnh phải, tụ máu nhu mô não thùy thái dương trái, vỡ xương đỉnh phải, đã mổ xử lý lấy máu tụ ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh phải. Tình trạng ra viện ổn định. Chấn thương gây gãy cung tiếp gò má trái, vỡ sàn, thành ngoài ổ mắt trái, vỡ lún thành trước, thành ngoài xoang hàm trái, được điều trị nội khoa. Tình trạng ra viện ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 39%.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương số 101c/TgT/HS ngày 04/5/2021 đối với Tống Thị T kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương gây gãy 1/3 giữa cánh
2
tay trái, đụng dập tổn thương liệt thần kinh quay trái, đã mổ kết hợp xương gãy. Tình trạng ra viện cánh tay trái chưa cất lên được. 03 vết thương phần mềm vùng trán, mi trên mắt trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 39%.
Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 13/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Lê Văn H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện VKSND huyện Ninh Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn H 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn cho Ủy ban nhân dân xã Văn Hội, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Giang, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và biên bản khám nghiệm hiện trường, phương tiện, bản kết luận giám định pháp y, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 30/12/2020, trên đường ĐH01 gần ngã ba cầu Me thuộc địa phận xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, Lê Văn H (không"có"giấy"phép"lái"xe"theo"quy"định) điều khiển xe mô tô BKS 34B1-782.18 ở phần đường bên phải theo chiều đi của mình, theo hướng thị trấn Ninh Giang đi cầu Me; tốc độ khoảng 40-45km/h. Khi đi đến gần khu vực ngã
3
ba cầu Me thì H bật xi nhan trái và cho xe di chuyển theo hướng chếch chéo sang phần đường bên trái để rẽ vào đường tỉnh lộ 396. Do không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên phần đầu xe mô tô của H va chạm với phần giữa xe mô tô BKS 16H2-8217 do chị Tống Thị T điều khiển chở theo chị Tống Thị M, di chuyển theo hướng ngược chiều từ cầu Me đi về thị trấn Ninh Giang đi sát mép đường bên phải theo chiều đi của mình. Hậu quả: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với chị T là 39%, đối với chị M 39%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với chị T và chị M là 78%. Hành vi của bị cáo nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, do bị cáo chưa có giấy phép lái xe theo quy định nên phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tham gia giao thông không quan sát để giảm tốc độ khi chuyển hướng xe, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ:“…2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”, hành vi vi phạm của bị cáo là nguyên nhân gây ra tai nạn làm thiệt hại sức khỏe của người khác, do vậy cần phải xem xét xử lý trách nhiệm hình sự mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, đồng thời góp phần tuyên truyền nâng cao ý thức của người tham gia thông đường bộ nói chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn H có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi gây tai nạn đã tích cực thăm hỏi và bồi thường thiệt hại cho bị hại; được bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt: Xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhân thân tốt, phạm tội do lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vì vậy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo để tự cải tạo, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú.
4
[6] Trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Lê Văn H đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại 40.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, HĐXX không đặt ra giải quyết.
[7] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 xe mô tô đeo biển kiểm soát 34B1-782.18 là tài sản hợp pháp của Lê Văn H; 01 xe mô tô đeo biển kiểm soát số 16H2-8217 là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị M (là mẹ đẻ của chị Tống Thị T). Ngày 30/9/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ninh Giang đã trả cho Lê Văn H xe mô tô đeo biển kiểm soát 34B1-782.18; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lê Văn H; 01 bảo hiểm xe mô tô, xe máy; 01 ba lô màu xanh; trả cho bà Phạm Thị M xe mô tô đeo biển kiểm soát 16H2-8217; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Ngô Trần D; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Tống Thị T là phù hợp với quy định của pháp luật. HĐXX không đặt ra giải quyết.
[8] Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác xác định: chị T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô BKS 16H2-8217 đi đúng phần đường của mình và bị xe mô tô do H điều khiển gây tai nạn, do vậy chị Tống Thị T không có lỗi, không đặt ra vấn đề xử lý đối với chị T.
[9] Về án phí: Bị cáo Lê Văn H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì"các"lẽ"trên."
QUYẾT!ĐỊNH"
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên!bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử!phạt: Bị cáo Lê Văn H 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
5
Về!án!phí:!Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về!quyền!kháng!cáo:!Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự."Bị cáo Lê Văn H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - VKSND huyện Ninh Giang; - VKSND tỉnh Hải Dương; - CQ CSĐT Công an huyện Ninh Giang; - CQ THAHS Công an huyện Ninh Giang; - Bộ phận HSNV Công an huyện Ninh Giang; - Chi cục THADS huyện Ninh Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - UBND xã V, huyện Ninh Giang; - Lưu hồ sơ vụ án. 6 7 " " " " " " 8 9 | !TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN-CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! !!!!!!!!!!!!!!!!!!Hà!Xuân!Trường! |