vanban.org

Bản án 57/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 04/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ gồm: 0,1119 gam (Không phẩy một nghìn một trăm mười chín gam) mẫu gửi giám định ký hiệu M1; 0,0967 gam ( Không phẩy không nghìn chín trăm sáu mươi bảy gam) mẫu gửi giám định ký hiệu M2;… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2021/HS-ST
Ngày 04-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Duy Hiền

2. Bà Trần Thị Nơi

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1975, tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 41/2014/HSST ngày 11-6-2014 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 05 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung 7.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26-4-2018, đến nay chưa thi hành số tiền phạt bổ sung 6.602.800 đồng.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07-02-2021, đến ngày 10-02-2021 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Những người làm chứng:

1.Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 09 giờ 45 phút ngày 07-02-2021, tại khu vực nghĩa trang thuộc thôn M, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; tổ công tác Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Kiểm tra và thu giữ tại lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn N 01 gói giấy màu trắng, có dòng kẻ bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục; thu trong mũ bảo hiểm Nguyễn Văn N cầm ở tay phải 01 gói giấy có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục; thu trong chiếc ví giả da màu nâu N để trong túi áo ngực 01 gói giấy tráng kim màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục. Nguyễn Văn N khai nhận 03 gói chất bột màu trắng, dạng cục trên đều là ma túy, loại hêrôin, N mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên tuổi, địa chỉ cụ thể) ở thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình với giá 400.000 đồng, mục đích để cùng một người bạn tên L ở thôn H. Ngoài ra, còn thu giữ quản lý tại túi áo khoác bên phải phía trước N đang mặc 02 xi lanh đều chưa qua sử dụng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không quản lý, thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Bản kết luận giám định số 47/KLGĐMT-PC09 ngày 09-02-2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật trong phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin có khối lượng 0,1257 gam; mẫu vật trong phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin có khối lượng 0,1124 gam; mẫu vật trong phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin có khối lượng 0,0726 gam.

Bản cáo trạng số 59/CT-VKSHH ngày 28-4-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận: Do có hẹn từ trước nên khoảng 9 giờ sáng ngày 07-02-2021, bị cáo cùng với anh L nhà ở thôn H, xã C đi lên khu vực Bưu điện thị trấn Hưng Nhân để mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi anh L đưa cho bị cáo 400.000 đồng. Khi đến khu vực Bưu điện thị trấn H anh L đứng chờ còn bị cáo đi và gặp và mua ma túy của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Bị cáo đưa 400.000 đồng cho người này, người này đưa lại cho bị cáo 02 gói ma túy loại Hêrôin được gói trong mảnh giấy có dòng kẻ. Sau khi mua được 02 gói ma túy trên bị cáo lấy 01 gói ma túy ra chia làm 02 phần, một phần gói vào tờ giấy tráng kim ở bao thuốc lá rồi cất vào trong ví giả da; phần còn lại gói vào mảnh giấy có dòng kẻ và cài vào mũ bảo hiểm; gói ma túy còn lại bị cầm ở lòng bàn tay trái. Sau đó bị cáo ra chỗ anh L đợi rồi cùng nhau đi về khu vực nghĩa trang thôn M để sử dụng. Trên đường đi về bị cáo có mua 02 xi lanh ở hiệu thuốc tây. Khi về và vào bên trong nghĩa trang thôn M, xã T thì bị cáo bị lực lượng Công an huyện Hưng Hà kiểm tra và thu giữ 03 gói ma túy trên cùng ví giả da, mũ bảo hiểm và 02 xi lanh chưa sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đại diện Viện kiểm sát khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07-02-2021; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ 02 xi lanh chưa qua sử dụng cùng toàn bộ số ma túy thu của bị cáo Nguyễn Văn N là vật chứng của vụ án, sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 47/KLGĐMT-PC09 ngày 09-02-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 01 ví giả da và 01 mũ bảo hiểm xe máy. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề N Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và Biên bản quản lý và niêm phong đồ vật tài liệu do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập ngày 07-02-2021; Bản kết luận giám định số 47/KLGĐMT-PC09 ngày 09-02-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Trọng H và anh Nguyễn Tiến H cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 45 phút ngày 07-02-2021, tại khu vực nghĩa trang thuộc địa phận thôn M, xã Tân Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; bị cáo Nguyễn Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy, loại Hêrôin có tổng khối lượng 0,3107 gam (Không phẩy ba nghìn một trăm linh bảy gam) mục đích để sử dụng bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định như sau:

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...;

c) Heroine, Cocaine, Mthamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo Nguyễn Văn N thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến giống nòi và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy: Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách hiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do mắc nghiện ma túy bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[6] Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về nguồn gốc 0,3107 gam ma túy loại, Hêrôin, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận: Sáng ngày 07-02-2021, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực Bưu điện thị trấn H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình với giá 400.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho N nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số tiền 400.000 đồng bị cáo sử dụng để mua ma tuý: Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn N khai là của người đàn ông tên L, khoảng 30 tuổi, ở thôn H, xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đưa cho bị đi mua ma túy về cùng sử dụng. Qua xác minh ở thôn H, xã Cộng Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không có người nào tên L như bị cáo khai nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

[8] Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thu giữ, quản lý của bị cáo bị cáo Nguyễn Văn N, sau khi giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 47/KLGĐMT-PC09 ngày 09-02-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 02 xi lanh loại 03 ml/cc chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc ví giả da màu nâu và 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal màu đen, loại mũ chùm đầu (đều đã qua sử dụng) là những tài sản hợp pháp nhưng bị cáo không đề nghị xin lại, hơn nữa những tài sản này không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07-02-2021.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ gồm: 0,1119 gam (Không phẩy một nghìn một trăm mười chín gam) mẫu gửi giám định ký hiệu M1; 0,0967 gam ( Không phẩy không nghìn chín trăm sáu mươi bảy gam) mẫu gửi giám định ký hiệu M2; 0,0561 gam (Không phẩy không nghìn năm trăm sáu mươi mốt gam) mẫu gửi giám định ký hiệu M3 và toàn bộ bao gói thu của Nguyễn Văn N trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 47/KLGĐMT-PC09 ngày 09-02-2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 02 xi lanh loại 03 ml/cc chưa qua sử dụng; 01 chiếc ví giả da màu nâu và 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal màu đen, loại mũ chùm đầu (đều đã qua sử dụng).

Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28-4-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 N quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ