vanban.org

Bản án 57/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 17/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xö ph¹t bÞ c¸o Trần Văn S 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thêi gian chấp hành hình phạt tï tÝnh tõ ngµy bị bắt tạm giữ 30/7/2021. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA VIỄN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 57/2021/ HS-ST
Ngày: 17/9/2021
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy;

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2021/TLST-HS, ngày 18 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2021/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trần Văn S (tên gọi khác: không), Sinh năm 1993; tại xã G Th, huyện G V, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn 3 K, xã G Th, huyện G V, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân Đ và bà Nguyễn Thị H; Vợ con: chưa có;

Tiền án: Không.

Tiền sự:

+ Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 04 ngày 06/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện G V, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn S 24 tháng. Ngày 02/8/2019, S chấp hành xong quyết định.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 133 ngày 09/8/2017 của Công an phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình, xử phạt Trần Văn S 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Trần Văn S chưa chấp hành quyết định trên.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67 ngày 18/01/2016 của Công an huyện G V, xử phạt Trần Văn S 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 27/01/2016, Trần Văn S chấp hành xong quyết định trên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/7/2021 đến ngày 04/8/2021 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người chứng kiến: Anh Trần Hoàng A và anh Trần Văn Đ. (đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn S là người sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2015. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30/7/2021 do có nhu cầu sử dụng ma túy, S đi bộ từ nhà ở thôn 3 K, xã G Th, huyện G V ra đường đê Hoàng Long thuộc địa phận xã G Th, rồi đi nhờ xe mô tô của người đi đường đến khu vực bến xe Nho Quan, huyện Nho Quan với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, S đến khu vực bến xe Nho Quan, nhìn thấy một người đàn ông không quen biết, đang đứng ven đường. S đến gần và hỏi: “Anh còn Heroine không, để cho em hai trăm” – ý hỏi mua Heroine với số tiền 200.000 đồng. Người đàn ông nói: “Còn”. S lấy 200.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền và đưa cho S 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng; S mở ra kiểm tra thấy bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Xác định đó là ma túy, S gói lại và bỏ vào trong lớp nilon màu trắng bọc ngoài bao thuốc lá Thăng Long màu vàng mà S mang theo rồi bỏ bao thuốc lá vào túi quần bên phải phía trước đang mặc. Sau đó, S hỏi người đàn ông bán ma túy: "Anh còn bộ kim tiêm nào không cho em một bộ, em hết tiền rồi". Người đàn ông đưa cho S 01 bơm kim tiêm và 01 ống nước cất. S cất bơm kim tiêm và ống nước cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của người đi đường về đến khu vực đường đê thuộc địa phận xã G Th, trước cổng Nhà nghỉ 36 thì xuống xe và đi bộ về nhà. Khi đi qua cầu phao K, xã G Th, S lấy bao thuốc lá Thăng Long từ trong túi quần bên phải phía trước ra, cầm ở tay phải. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi S đang đi bộ vào sân nhà tại thôn 3 K, xã G Th thì gặp Tổ công tác Công an huyện G V phối hợp với Công an xã G Th đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Tổ công tác kiểm tra và thu giữ trên tay phải của S 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong lớp nilon màu trắng bọc ngoài bao thuốc lá có 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng. S khai nhận đây là gói ma túy, loại heroine, S vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ và niêm phong gói ma túy có đặc điểm nêu trên của S và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng vào túi niêm phong mã số 2012254. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của S 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất đều chưa qua sử dụng, được niêm phong trong túi niêm phong mã số 2012296.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G V đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong gói nhỏ thu giữ của Trần Văn S, có khối lượng 0,164 gam, lấy mẫu ký hiệu M, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 599/KLGĐ-PC09-MT ngày 04/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1636 gam, là ma túy, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

- Hoàn lại đối tượng giám định gồm:

+ Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1142 gam, là ma túy, loại Heroine.

+ Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.

(Tất cả được niêm phong trong một phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 599/KLGĐ-PC09-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng).

Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKS-GV ngày 17/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện G V đã truy tố Trần Văn S ra trước Tòa án nhân dân huyện G V, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G V, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 30/7/2021.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, trên mặt phong bì ghi số 599/KLGĐ-PC09-MT đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1142 gam, là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì thư dán kín niêm phong theo quy định pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 vỏ túi niêm phong vật chứng ban đầu mã số 2012254; 01 túi niêm phong mã số 2012296 bên trong đựng 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất đều chưa qua sử dụng

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện G V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Trần Văn S là người sử dụng ma túy; hồi 09 giờ 30 phút ngày 30/7/2021, tại khu vực sân nhà Trần Văn S ở thôn 3 K, xã G Th, huyện G V, tỉnh Ninh Bình, Trần Văn S có hành vi cất giấu trái phép 0,1636 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị bắt quả tang

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ……..;

b, ……..;

c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn S đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G V, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Ma túy loại Heroine là loại độc chất, có khả năng gây nghiện mạnh, có hại cho sức khỏe và ảnh hưởng rất xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của nòi giống, làm khánh kiệt kinh tế của người sử dụng chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt. Bị cáo nhận thức được điều đó, song để phục vụ nhu cầu bản thân, bị cáo đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, là hành vi cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bố đẻ bị cáo là ông Trần Xuân Điều là thương binh loại A, thương tật hạng 4/4, được cấp Giấy chứng nhận thương binh số 32230/ANH, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền sự. Bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính, đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên một năm, nên được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người sử dụng ma túy, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì dán kín, trên mặt phong bì ghi số 599/KLGĐ-PC09-MT đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1142 gam, là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì thư dán kín niêm phong theo quy định pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 vỏ túi niêm phong vật chứng ban đầu mã số 2012254; 01 túi niêm phong mã số 2012296 bên trong đựng 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất đều chưa qua sử dụng. Đây là những vật chứng thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trần Văn S ngày 30/7/2021. Bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G V đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không đủ căn cứ để xác định, do đó không có căn cứ để xử lý.

Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G V tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo, nhân thân của bị cáo là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quan điểm xử lý của Hội đồng xét xử.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xö ph¹t bÞ c¸o Trần Văn S 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thêi gian chấp hành hình phạt tï tÝnh tõ ngµy bị bắt tạm giữ 30/7/2021.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, trên mặt phong bì ghi số 599/KLGĐ-PC09-MT đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1142 gam, là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì thư dán kín niêm phong theo quy định pháp luật, bên trong gồm: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 vỏ túi niêm phong vật chứng ban đầu mã số 2012254; 01 túi niêm phong mã số 2012296 bên trong đựng 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất đều chưa qua sử dụng. (Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện G V ngày 20/8/2021).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/9/2021.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ