vanban.org

Bản án 57/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị P được ly hôn anh Hà Ngọc Q.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN LY HÔN P-Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị P được ly hôn anh Hà Ngọc Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09-12-2021
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguy n Hoàng Liên

Ông Lý Trung Hiếu

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Tiến Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- i di n Vi n ki m sát nh n d n hu n V n ên t nh ên ái tham gia phiên t a: Bà Đ Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị P, sinh năm 2001 Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (có mặt)

- Bị đơn: Anh Hà Ngọc Q, sinh năm 1995 Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trương Thị P trình bầy: Tôi và anh Hà Ngọc Q kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện. Đăng ký ngày 20/08/2019 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc đến tháng 1/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống vợ chồng không đồng nhất và anh Q hay uống rượu say về nhà chửi bới vợ vô cớ. Từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và chúng tôi đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2021 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn gì nữa. Không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa. Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Q.

Về con chung: Chưa có

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn anh Hà Ngọc Q trình bầy: Tôi và chị P kết hôn với nhau là tự nguyện. Đăng ký ngày 20/08/2019 tại ủy ban nhân dân xã H, huyện Văn Yên, Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Đến tháng 01/2021 mâu thuẫn vợ chồng xảy ra. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống vợ chồng không đồng nhất. Hiện nay chúng tôi đã sống ly thân nhau m i người có một cuộc sống riêng. Nay chị P làm đơn xin ly hôn tôi. Tôi đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi chưa có

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án. Tòa án nhân dân huyện Văn Yên đã nhiều lần báo gọi và gửi Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Q không có mặt theo các giấy tờ của Tòa án. Hiện nay hộ khẩu của anh Q tại thôn T, xã H, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Những lần Tòa án gửi các giấy tờ cho anh Q, bà Trần Thị D là mẹ đ anh Q đã nhận và thông báo cho anh Q biết việc Tòa án đang giải quyết việc ly hôn giữa chị P và anh nhưng Q không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không thể hòa giải theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự được.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trương Thị P được ly hôn anh Hà Ngọc Q. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị P và anh Hà Ngọc Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại U ban nhân dân xã H, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái vào ngày 20 tháng 08 năm 2019 là hôn nhân hợp pháp. Chị P và anh Q đều cho r ng sau khi khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hòa thuận hạnh phúc đến tháng 01/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống vợ chồng không đồng nhất. Anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2021 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Chị P xin ly hôn. Anh Q đồng ý ly hôn.

Tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “V chồng có ngh a v thương yêu chung thủy t n tr ng quan tâm ch m sóc gi p đ nhau c ng nhau chia s th c hiện các c ng việc trong gia đ nh .

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đã xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn chị P xin ly hôn, anh Q đồng ý ly hôn. Từ đó có căn cứ cho r ng tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh Q đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho chị P được ly hôn anh Q là có căn cứ.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp

luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điều 56; 57 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 điều 147; khoản 1 điều 228; Điều 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị P được ly hôn anh Hà Ngọc Q.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Chị Trương Thị P phải chịu 300.000đồng tiền án dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0001292 ngày 03/11/2021 tại Thi hành án dân sự huyện Văn Yên. Xác nhận chị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị P có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ