vanban.org

Bản án 57/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 23/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 ề tội danh: Tuyên ố ị cáo õ n L (Tép) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2 ề hình phạt: ử phạt ị cáo õ n L (Tép) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày ị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam 05/9/2020 (Ngày năm tháng chín năm hai nghìn không trăm hai mươi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Võ Văn Linh (Đ 249) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 ề tội danh: Tuyên ố ị cáo õ n L (Tép) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 57/2020/HSST
Ngày 23 – 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tr n n áu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông õ Hoàng Nghiệp;

2. Ông õ n Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nguyễn Thiết Bảnh - Kiểm sát viên

Trong ngày 23 tháng 12 n m 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 11 n m 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197 2020 Q

T-H ngày 08 tháng 12 n m 2020; Th ng áo thay đổi địa điểm xét xử số: 10 2020 TB-TA ngày 18 tháng 12 n m 2020, đối với ị cáo:

õ n L (tên gọi khác: Tép), sinh n m 2000 tại An Phú, An Giang; nơi đ ng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, thị trấn L, huyện An Phú, An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiền lâm; quốc tịch: iệt Nam; con ông õ n T, sinh n m 1975 và bà Nguyễn Thị D, sinh n m 1976; anh em ruột có 02 người, ị cáo là người nhỏ nhất.

Nhân thân: Lúc nhỏ sống chung với gia đình, đi học hết lớp 4 thì nghỉ học phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm pháp

Tiền án, tiền sự: Chưa

Bị ắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05 9 2020 đến nay

Bị cáo c m t

Người chứng kiến:

1. Ông Lương C ng T1, sinh n m 1964;

2. Ông õ Phước T2, sinh n m 1980

Tại phiên tòa, những người chứng kiến vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 05 9 2020, õ n L một mình ơi xuồng gỗ từ nhà sang Campuchia mua ma túy để ản thân sử dụng. L nhờ một người ạn tên D (sinh sống tại Campuchia, kh ng rõ họ tên, địa chỉ) liên hệ mua ma túy của Zét với số lượng 500 000 đồng au khi nhận ma túy từ D, L cất giấu vào ên trong điện thoại di động, rồi ơi xuồng về lại iệt Nam Khoảng 17 giờ cùng ngày, tổ c ng tác phòng chống dịch Covid-19 của ồn Biên phòng Cửa khẩu Long Bình phối hợp cùng C ng an thị trấn Long Bình trên đường đi tu n tra đến khu vực tổ 17, ấp Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang phát hiện ắt giữ L cùng tang vật

C n cứ Kết luận giám định số 226 KLGT-PC09(MT) ngày 08 9 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - C ng an tỉnh An Giang xác định: Mẫu gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,8921 gam

Ngày 10 9 2020, ồn Biên phòng Cửa khẩu Long Bình khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – C ng an huyện An Phú giải quyết theo thẩm quyền

Ngày 11 9 2020, õ n L ị khởi tố điều tra

Cáo trạng số 55/VKS-HS ngày 23 tháng 11 n m 2020 của iện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố ị cáo õ n L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 iều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, ị cáo khai nhận toàn ộ hành vi như đã nêu trên Bị cáo đã sử dụng ma túy từ n m 2017 Ngày 02 01 2019 đã ị đưa cắt cơn, giải độc15 ngày tại Cơ sở điều trị - Cai nghiện ma túy tỉnh An Giang, sau đ được gia đình ảo lãnh tự cai nghiện tại nhà Mục đích của ị cáo mua ma túy cất giấu, mang về là để sử dụng

Hội đồng xét xử c ng ố lời khai của những người vắng m t. Bị cáo, đại diện iện kiểm sát kh ng c ý kiến

ại diện iện kiểm sát thực hành quyền c ng tố tại phiên tòa phát iểu lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố au khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nh , đề nghị Hội đồng xét xử tuyên ố ị cáo õ n L (Tép) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị c n cứ điểm c khoản 1 iều 249; điểm s khoản 1 iều 51; iều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt ị cáo từ 02 (hai) n m đến 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù.

ề hình phạt ổ sung: Do ị cáo kh ng c nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế kh kh n, đề nghị kh ng áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo

ề iện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử c n cứ các điều 46, 47 Bộ luật hình sự; iều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án.

Bị cáo õ n L không c ý kiến tranh luận

Lời n i sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho ị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

ề tố tụng:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, iều tra viên, iện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, iều tra viên, iện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đ y đủ và phù hợp với quy định của pháp luật

Tại phiên tòa, ị cáo kh ng khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Do đ , Hội đồng xét xử xem xét hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, những người chứng kiến vắng m t kh ng rõ lý do Tuy nhiên, những người này đã c lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án; đại diện iện kiểm sát, ị cáo kh ng c ý kiến, xét việc vắng m t của họ kh ng gây trở ngại cho việc xét xử ì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng m t những người tham gia tố tụng này

ề nội dung: ét thấy lời khai nhận của ị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của ị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của những người chứng kiến C n cứ vào các lời khai; Biên ản ắt người phạm tội quả tang ngày 05/9/2020 của Biên phòng ồn cửa khẩu Long Bình; kết luận giám định số 226/KLGT-PC09(MT) ngày 08/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - C ng an tỉnh An Giang và các tài liệu, chứng cứ khác c trong hồ sơ, c c n cứ xác định: Do nghiện ma túy, ngày 05/9/2020, ị cáo õ n L sang Camphuchia mua ma túy cất giấu trong điện thoại mang về nhằm mục đích sử dụng. Khi đến khu vực tổ 17, ấp Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú thì ị ắt quả tang Số ma túy ị ắt quả tang c trọng lượng 1,8921 gam loại Methamphetamine. Bị cáo là người c đ y đủ n ng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự quản lý hành chính và sự quản lý độc quyền chất ma ma túy của Nhà nước và làm mất an ninh trật tự tại địa phương Hành vi của ị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ; Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 iều 249 Bộ luật Hình sự ác định truy tố của iện kiểm sát nhân dân huyện An Phú là c c n cứ, đúng pháp luật

ề tính chất vụ án: Ma túy là chất hướng th n, gây nghiện và n được coi là “cái chết trắng” cho cộng đồng. Trong thực tế, mọi người đều muốn loại trừ h n ma túy ra khỏi đời sống xã hội, Nhà nước ta c ng đã c nhiều iện pháp, an hành nhiều v n ản quy phạm pháp luật nhằm ng n ch n, đẩy lùi việc sản xuất, mua án, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy ởi tính nguy hiểm cao độ của n Người sử dụng ma túy trước hết s ị ảnh hưởng về sức khỏe, trí tuệ, kinh tế gia đình Ma túy n còn là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác như: Trộm cắp, cướp giật, giết người Cho nên, loại trừ h n ma túy ra khỏi đời sống xã hội là thật sự c n thiết; là nguyện vọng của toàn thể nhân loại.

Tình hình tội phạm ma túy trên cả nước n i chung và địa àn huyện An Phú n i riêng đang diễn iến phức tạp và ngày càng gia t ng về số lượng; tinh vi về cách thức thực hiện ố người nghiện mới c xu hướng t ng và sử dụng nhiều loại ma túy, đ c iệt là ma túy tổng hợp chứa chất Methamphetamine (ma túy đá) Hành vi của ị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến c ng tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện iệc ị cáo mua ma túy nhằm mục đích sử dụng là tiếp tay cho ọn tội phạm về ma túy, tự hại cho ản thân và đưa “cái chết trắng” vào cộng đồng. Vì vậy, xét thấy c n thiết phải c hình phạt nghiêm đối với ị cáo nhằm r n đe, giáo dục và phòng ngừa chung

ề hình phạt:

ề nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, ị cáo chưa c tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, ị cáo là người nghiện ma túy, đã được tạo điều kiện cho tự cai nghiện tại nhà nhưng kh ng sửa đổi

ề tình tiết t ng n ng: Bị cáo kh ng c tình tiết t ng n ng trách nhiệm hình sự

ề tình tiết giảm nh : Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, ị cáo thật thà khai áo, tỏ thái độ n n n hối cải; bị cáo thuộc thành ph n lao động ngh o, ít am hiểu pháp luật, nên c xem xét giảm nh hình phạt cho ị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 iều 51 Bộ luật Hình sự

ới tính chất và sự nguy hiểm của ma túy cho xã hội; mức độ của hành vi; nhân thân kh ng tốt của ị cáo và đ c iệt là tình hình gia t ng loại tội phạm về ma túy trên địa àn huyện An Phú ét c n áp dụng hình phạt tiếp tục cách ly ị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian nữa, để c đủ thời gian cải tạo, giáo dục ị cáo trở thành c ng dân tốt, c ích cho gia đình và xã hội về sau

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị về mức hình phạt của iện kiểm sát đối với ị cáo là c c n cứ, đúng pháp luật, đáp ứng được yêu c u r n đe, giáo dục và phòng ngừa, nên chấp nhận.

ề hình phạt ổ sung: Theo quy định tại khoản 5 iều 249 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn c thể ị phạt tiền từ 5 000 000 đồng đến 500 000 000 đồng .tịch thu một ph n ho c toàn ộ tài sản ét ị cáo không có nghề nghiệp, sống phụ thuộc gia đình; hoàn cảnh kinh tế kh kh n nên thống nhất đề nghị của iện kiểm sát, kh ng áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo

ề xử lý vật chứng: ật chứng còn lại trong vụ án là 01(một) phong ì chứa chất ma túy và 01 (một) điện thoại di động, được xử lý như sau:

- Phong bì được niêm phong là vật chứng của vụ án, ên trong chứa chất ma túy là loại chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy

- iện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng đen, số imei: 357341086928360, đã qua sử dụng, kh ng c pin, là c ng cụ ị cáo sử dụng thực hiện tội phạm nên tịch thu sung ngân sách nhà nước

ề chi phí tố tụng:

ề án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 ề tội danh: Tuyên ố ị cáo õ n L (Tép) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2 ề hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

ử phạt ị cáo õ n L (Tép) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày ị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam 05/9/2020 (Ngày năm tháng chín năm hai nghìn không trăm hai mươi).

3 ề xử lý vật chứng:

Căn cứ các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong ì thư ên trong chứa chất ma túy được niêm phong c dấu của ồn Biên phòng cửa khẩu Long Bình

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng đen, số imei: 357341086928360, đã qua sử dụng, kh ng c pin

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 11 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

4 ề án phí:

Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị uyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ uốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

5. ề quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

n tuyên c ng khai c m t ị cáo õ n L Thời hạn kháng cáo của ị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/12/2020).

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Cỡ chữ