- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thế D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2020/HS-ST Ngày 30-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Hạnh
Ông Nguyễn Kim San
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Thế D (tên gọi khác là T), sinh năm 199X tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Y, xã T, huyện T, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Thế Q (đã chết) và bà Cao Thị T; chưa có vợ con; tiền sự, tiền án và nhân thân: Bản án số 109/2012/HSST ngày 27/8/2012, TAND thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 29/12/2019 đến ngày 07/01/2020 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Chu Anh V, sinh năm 197Z; nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện Th, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối 28 tháng 12 năm 2019, sau khi cùng các bạn trong đội bóng đá của xã Tam Hưng tổ chức ăn uống, liên hoan, Lê Thế D ở thôn 10, xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã rủ mọi người đi hát Karaoke tại quán 159 tại xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên. D gọi điện thoại cho chủ quán là Chu Anh V, sinh năm 1977, nơi cư trú: thôn B, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng để đặt phòng hát và đặt nhân viên phục vụ. Khi D cùng các bạn gồm Nguyễn Huy H, sinh năm 199P, địa chỉ thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vũ Thanh B, sinh năm 198C, địa chỉ thôn A, xã T, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Đình T1, sinh năm 199V, địa chỉ thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vũ Văn L, sinh năm 197N, địa chỉ thôn X, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vũ Anh T1, sinh năm 198M, địa chỉ thôn N, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Cao Tú T, sinh năm 1991, địa chỉ thôn R, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng đến quán 159 đã được V bố trí tại phòng hát Vip5 (gọi là phòng hát) cùng 05 nhân viên nữ gồm Kha Thị M, sinh năm 199B, ĐKHKTT tại xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; Mai Thị H, sinh năm 199H, ĐKHKTT tại thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Ngọc Mai H, sinh năm 200Y, ĐKHKTT tại thôn K, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Phùng Thị V, sinh năm 199I, ĐKHKTT tại thôn N, xã E, huyện C, tỉnh Đ; Nguyễn Thị Lệ N, sinh năm 200V, ĐKHKTT tại xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam.
Hát được khoảng 30 phút, thì D nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy nên gọi điện thoại cho Lê Văn T, sinh năm 198Z, địa chỉ: tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng đặt mua 10 "viên kẹo" (thuốc lắc) và 03 gam chất ma túy Ketamine với giá 9.000.000 đồng. Khoảng 15 phút đến 20 phút sau T gọi điện cho D ra cửa quán 159, T ngồi trong xe taxi vẫy tay ra hiệu cho D lên xe đi qua quán 159 hướng ra phía trường Nam Triệu một đoạn thì dừng lại và đưa ma túy cho D. D trả tiền mua ma túy rồi xuống xe vào phòng hát và bỏ ra 10 viên thuốc lắc dạng viên nén, màu hồng, hình trái tim và 03 túi nilon nhỏ đựng Ketamine. D lấy 01 viên thuốc lắc uống với nước và cầm số ma túy đi mời các bạn bè cùng nhân viên đang có mặt tại phòng hát sử dụng trái phép chất ma túy. Sau đó D đã sử dụng thẻ ATM đánh mịn ma túy Ketamine, kẻ thành nhiều đường nhỏ, dùng tiền quấn ống hút để sử dụng và mời các bạn sử dụng. D cùng các bạn vừa sử dụng ma túy vừa hát karaoke đến khoảng 01 giờ 20 phút ngày 29 tháng 12 năm 2019 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng gồm: 0,72 gam chất ma túy Ketamine; 01 viên nén màu hồng, hình trái tim bị khuyết 1 góc bên trên, bề mặt có ghi chữ “SE” là ma túy MDMA, có khối lượng 0,38 gam; 01đĩa sứ màu trắng có dính tinh thể màu trắng; 01 thẻ ATM do Ngân hàng Vietcombank phát hành có tên LE VAN HUY; 02 ống hút được cuộn bằng tiền, trong đó 01 ống được cuộn bằng tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng và 01 ống được cuộn bằng tờ tiền 20.000 đồng; một số đồ vật khác như điện thoại, xe.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thế D ở thôn 10, xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không thu giữ gì liên quan đến tội phạm.
Trên cơ sở lời khai của Lê Thế D, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Văn T. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra thu giữ của T 141,55 gam ma túy loại Methamphetamine; 158,20 gam ma túy loại Ketamin và 90,83 gam ma túy loại MDMA. Theo T khai nhận số ma túy trên là của T mới mua về để nhằm mục đích bán cho người khác. Đồng thời, T thừa nhận về việc đã bán trái phép chất ma túy cho Lê Thế D vào tối ngày 28 tháng 12 năm 2019 tại quán 159 như lời khai của Lê Thế D.
Tại Bản kết luận giám định số 652 ngày 31 tháng 12 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận chất bột màu trắng thu giữ trên mặt đĩa sứ là ma túy Ketamine, có khối lượng 0,72 gam; 01 viên nén màu hồng, hình trái tim bị khuyết 1 góc bên trên, bề mặt có ghi chữ “SE” là ma túy MDMA, có khối lượng 0,38 gam.
Về vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ gồm: Số ma túy được niêm phong; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng, nắp Sim có số thuê bao 0848662968; 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng, nắp Sim có số thuê bao 0923291192; 02 ống hút hình trụ tròn được tạo bởi 02 tờ tiền gồm 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng; 01 đĩa sứ; 01 đầu thu lưu giữ dữ liệu màu đen đã qua sử dụng nhãn hiệu HIKVISION.
Ngày14 tháng 4 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định khởi tố bổ sung vụ án Mua bán trái phép chất ma túy, khởi tố bị can đối với Lê Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự, đồng thời nhập vụ án với vụ án Lê Thế D Tàng trữ trái phép chất ma túy để điều tra.
Do thời hạn điều tra vụ án Lê Thế D tàng trữ trái phép chất ma túy đã hết, trong khi vụ án Lê Văn T mua bán trái phép chất ma túy mới khởi tố điều tra, hiện đang điều tra mở rộng án, nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án Lê Văn T Mua bán trái phép chất ma túy để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau và kết thúc điều tra, đề nghị truy tố đối với Lê Thế D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Tại Bản Cáo trạng số 55/CT-VKS-P1 ngày 29 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố Lê Thế D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên toà:
+ Bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì.
+ Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các vật dụng liên quan đến ma túy hoặc không còn giá trị sử dụng; trả lại chủ sở hữu 01 đầu thu lưu giữ dữ liệu màu đen đã qua sử dụng nhãn hiệu HIKVISION và 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng, nắp Sim có số thuê bao 0923291192; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng, nắp Sim có số thuê bao 0848662968, 02 ống hút hình trụ tròn được tạo bởi 02 tờ tiền gồm 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng.
+ Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng của bị cáo xin được khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã được thu giữ; nội dung Kết luận giám định; kết quả kiểm tra điện thoại; kết quả thu giữ điện tín; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Lê Thế D đã mua ma túy về quán Karaoke sử dụng và mời những người khác cùng sử dụng và bị bắt quả tang tàng trữ trái phép 0,38 gam MDMA và 0,72 gam Ketamine; đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước ta mà còn gây dư luận xấu ở địa phương và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Hải Phòng xảy ra nhiều vụ án các đối tượng (hầu hết là thanh, thiếu niên) tụ tập sử dụng ma túy tại các quán Karaoke, gây mất trật tự trị an và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng, nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Nhưng cũng xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng do nhất thời phạm tội, thái độ khai báo thành khẩn.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về quyết định hình phạt: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình bố chết sớm, mẹ đi lao động xa nên thiếu người quan tâm, giáo dục; ban đầu bị cáo chỉ rủ bạn bè đi hát Karaoke, sau khi uống bia rượu say mới nảy sinh ý định mua ma túy về mời bạn bè sử dụng; phạm tội không có tình tiết tăng nặng; việc khai báo thành khẩn và đã giúp Cơ quan điều tra bắt giữ và khởi tố đối với Lê Văn T về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy (hiện đang mở rộng điều tra); nhân thân có 01 lần bị kết án tù về hành vi trộm cắp sắt phế liệu tại Nhà máy nhiệt điện (đã được xóa án tích). Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt, theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo không có nghề nghiệp, sống phụ thuộc bằng nguồn tiền của mẹ đẻ chu cấp hàng tháng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau khi giám định; 01 đĩa sứ liên quan đến ma túy cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng, nắp Sim có số thuê bao 0848662968 của bị cáo dùng gọi mua ma và 02 ống hút hình trụ tròn được tạo bởi 02 tờ tiền gồm 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng liên quan đến ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước. 01 đầu thu lưu giữ dữ liệu màu đen đã qua sử dụng nhãn hiệu HIKVISION và 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng, nắp Sim có số thuê bao 0923291192 không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho chủ sở hữu.
Trong vụ án này, Lê Thế D còn có hành vi mời các đối tượng khác trong phòng cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Xét hành vi của D là bột phát, không có việc bàn bạc, chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác vì vậy không cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không khởi tố truy tố điều tra đối với Lê Thế D về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Đối với Chu Anh V là chủ quán 159, hiện chưa chứng minh được có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; Lê Văn T đã bị khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là đúng qui định của pháp luật. Các đối tượng được Lê Thế D mời sử dụng ma túy đã bị xử lý hành chính theo đúng qui định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo: Lê Thế D (tên gọi khác là Toàn) 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2019.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
+ Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định chứa trong phong bì niêm phong (số 652/2019/PC09); 01 đĩa sứ.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng, lắp Sim có số thuê bao 0848662968; 02 ống hút hình trụ tròn được tạo bởi 02 tờ tiền gồm 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng;
+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng, lắp Sim có số thuê bao 0923291192.
+ Trả lại anh Chu Anh V 01 đầu thu dữ liệu Camera màu đen đã qua sử dụng nhãn hiệu HIKVISION.
(Vật chứng được lưu giữ theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Cục THADS thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; - Phòng KTNV và THA TAND TP. Hải Phòng; - UBND xã (nơi BC cư trú); - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Hạnh |