- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 57/2020/HS-ST Ngày: 28/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Hịa
Bà Bạc Thị Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2020/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1976 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cà Văn H (Đã chết); Con bà: Lò Thị N (Đã chết); Hiện chung sống như vợ chồng với Quàng Thị Th - Sinh năm: 1985; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/01/2020, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn T: Ông Hoàng Tiến Ng - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung T Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).
* Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn L - Sinh năm: 1996; Địa chỉ: Bản P, xã M2, huyện M, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 12/01/2020, Cà Văn T đi bộ từ nhà ở bản H, xã M, huyện Đ đến khu vực đường thuộc bản H, xã M gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) 02 gói Heroine đều được gói ngoài bằng nilon màu hồng, miệng gói hơ lửa hàn kín với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Mua được Heroine, T cất giấu vào túi áo bên trái đang mặc và đi về nhà. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi T đang ở nhà thì Lò Văn L (sinh năm 1996, nơi cư trú: Bản P, xã M2, huyện M, tỉnh Điện Biên) đến hỏi mua Heroine. T lấy trong túi áo đang mặc ra 01 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu hồng, miệng hơ lửa hàn kín bán cho L, thu được 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine của T, Lò Văn L đã đi ra khỏi nhà T và sử dụng hết. Hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi Cà Văn T đang ở nhà thì bị tổ công tác Đồn biên phòng M phát hiện bắt quả tang, thu giữ: Tại túi áo bên trái T đang mặc 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng, miệng gói hơ lửa hàn kín khối lượng 0,19 gam (Không phẩy mười chín gam), mục đích để T sử dụng và bán lại cho người khác; một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số: 123/GĐ-PC09 ngày 21/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Cà Văn T gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, khối lượng vật chứng thu giữ của Cà Văn T gồm: 0,19 gam chất bột màu trắng (đã trích 0,03 gam gửi giám định không hoàn lại). Heroine nằm trong danh mục chất ma túy, STT 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 13/3/2020 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 0,16 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành là tiền do bị cáo bán Heroine mà có.
Bản cáo trạng số: 57/CT-VKSĐB ngày 11/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn T với mức hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a , b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine (đã trích 0,03 gam gửi giám định không hoàn lại) là vật chứng của vụ án và Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có;
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên.
Tại luận cứ bào chữa cho bị cáo Cà Văn T ngày 28/4/2020 ông Hoàng Tiến Ng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo” và “ Người phạm tội tự thú” cho bị cáo theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo Cà Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Cà Văn T hoàn toàn thừa nhận hồi 09 giờ 30 phút ngày 12/01/2020, tại nơi ở của mình thuộc bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Cà Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,19 gam Heroine trong túi áo bên trái T đang mặc mục đích để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời. Trước đó, khoảng 09 giờ cùng ngày, Cà Văn T đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Lò Văn L để L sử dụng thu được 100.000 đồng. Số Heroine trên là do trước đó T mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) tại khu vực đường thuộc bản H, xã M với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có nghĩa vụ liên quan, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
…
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
Cà Văn T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Với động cơ vì vụ lợi và nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiện chất ma túy của bản thân, Cà Văn T đã có hành vi cất giấu 0,19 gam Heroine để sử dụng và bán lại cho người khác. Trước khi bị bắt T đã bán trót lọt 01 gói Heroine cho Lò Văn L thu được 100.000 đồng. Thủ đoạn phạm tội của bị cáo là sau khi mua được ma túy, đã cất giấu trong túi áo bên trái đang mặc trên người nhằm thuận lợi cho việc mua bán ma túy và tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Hành vi trên của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nghiện sử dụng ma túy từ năm 2012 cho đến nay, vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác nên bị cáo đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và tự khai ra việc đã 01 lần bán Heroine cho Lò Văn L nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo” và “ Người phạm tội tự thú” cho bị cáo theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo với mức hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Đối với đề nghị của người bào chữa về việc xử phạt bị cáo với mức án khởi điểm của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo bởi sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo của người bào chữa là có căn cứ chấp nhận.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine (đã trích 0,03 gam gửi giám định không hoàn lại) là vật chứng của vụ án và Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có;
[6] Về các vấn đề khác: Đối với Lò Văn L đã mua 01 gói Heroine của Cà Văn T và đã sử dụng hết. Ngày 25/02/2020 Công an huyện Điện Biên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21 đối với L với hình thức: Cảnh cáo. Xét thấy việc xử phạt vi phạm hành chính của Công an huyện Điện Biên là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Đối với người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho Cà Văn T, do bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Cà Văn T 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (12/01/2020).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,19 gam Heroine (đã trích 0,03 gam gửi giám định không hoàn lại) là vật chứng của vụ án và Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) là tiền do bị cáo phạm tội mà có;
Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2020 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn T.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Cà Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/4/2020).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát huyện ĐB; - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; - HSNV Công an huyện ĐB; - CQĐT Công an huyện ĐB; - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB; - Bị cáo; - Chi cục Thi hành án DSHĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Công an trại tạm giam; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ vụ án; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |