vanban.org

Bản án 57/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Ngọc Q đƣợc ly hôn với bà Trần Thị H, theo giấy chứng nhận kết hôn số 25/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố P, tỉnh H cấp ngày 30/8/2006.

Về con chung: Ông Trần Ngọc Q giao hai con chung là cháu Trần Thái H, sinh ngày 21/02/2007 và cháu Trần Hồng L, sinh ngày 30/5/2012 cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Sau khi ly hôn, bà Trần Thị H phải tạo điều kiện cho ông Trần Ngọc Q có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Ngọc Q đƣợc ly hôn với bà Trần Thị H, theo giấy chứng nhận kết hôn số 25/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố P, tỉnh H cấp ngày 30/8/2006.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 57/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21-7-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Phú Tâm;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân th ành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 237/2020/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/6/2020, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc Q, sinh năm 1977;

Thƣờng trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh T;

Tạm trú: 92/6 khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B; địa chỉ liên lạc: 64, đƣờng số 2, khu công nghiệp S, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B, có mặt.

- Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1984;

Thƣờng trú: Thôn Đ, xã L, thị xã P, tỉnh H;

Tạm trú: 92/6 khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Tại đơn khởi kiện ngày 16/4/2020và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Ngọc Q trình bày:

Về quan hê ̣ hôn nhân : Ông Trần Ngọc Q và bà Trần Thị H, tìm hiểu nhau đƣợc một thời gian, thì đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố P, tỉnh H, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố P, tỉnh H cấp ngày 30/8/2006.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà riêng của vợ chồng ở Dĩ An, Bình Dƣơng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, tiền bạc và cách nuôi dạy con cái; nguyên nhân do vợ chồng không tìm đƣợc tiếng nói chung, bất đồng quan điểm về nhiều mặt trong cuộc sống hàng ngày. Càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng hơn nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019. Nay ông Trần Ngọc Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với bà Trần Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thái H, sinh ngày 21/02/2007 và Trần Hồng L, sinh ngày 30/5/2012. Tại phiên tòa, ông Trần Ngọc Q yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi cả 02 con chung, trƣờng hợp Tòa án không cho ông nuôi 02 con chung thì ông yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi cháu Trần Hồng L, sinh ngày 30/5/2012 và giao cháu Trần Thái H, sinh ngày 21/02/2007 cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng, không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung (nghĩa vụ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 07/5/2020, tại biên bản lấy lời khai bổ sung đương sự ngày 10/6/2020 và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thì H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H thống nhất với phần trình bày của ông Trần Ngọc Q về thời gian tìm hiểu, thời gian đăng ký kết hôn và quá trình chung sống, quan hệ vợ chồng. Ông, bà sống hạnh phúc đƣợc thời gian đầu, về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không tìm đƣợc tiếng nói chung, bất đồng quan điểm về tất cả các mặt trong cuộc sống hàng ngày, tính tình không hợp nhau, dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên cải vã nhau, mặc dù ông, bà đã cố gắng sống vì con nhƣng mâu thuẫn không cải thiện đƣợc. Ngƣợc lại, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, đến nay thì sức chịu đựng của bà cũng không còn và cũng không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông Q. Do đó, bà H đồng ý ly hôn với ông Trần Ngọc Q.

Về con chung: Bà Trần Thị H xác định vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thái H, sinh ngày 21/02/2007 và Trần Hồng L, sinh ngày 30/5/2012. Bà H không đồng ý giao con chung cho ông Q nuôi dƣỡng vì bà cho rằng ông Q là ngƣời chồng, ngƣời cha rất vô tâm, không quan tâm và không hiểu các con nên không thể chia sẻ, gần gũi, chăm sóc các con. Hơn nữa ông Q phải đi là tăng ca nên không có thời gian để chăm sóc và dạy dỗ các con. Bà H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cả hai con chung và yêu cầu ông Q có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/ tháng/02 con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung (nghĩa vụ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc giải quyết vụ án đã đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ông Q yêu cầu đƣợc ly hôn và bà H cũng đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Q về việc ly hôn. Về con chung: xét các cháu Trần Thái H và Trần Hồng L từ nhỏ đến giờ đều do bà H trực tiếp chăm sóc, các cháu có nguyện vọng đƣợc ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dƣỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung do các đƣơng sự không tranh chấp nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Ngọc Q và bà Trần Thị H là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố P, tỉnh H, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố P, tỉnh H cấp ngày 30/8/2006 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khaicủa ông Q và bà H trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa thì thực tế cuộc sống vợ chồng của ông bàcó nhiều mâu thuẫn, do không tìm đƣợc tiếng nói chung, ông Q không có sự quan tâm, chăm sóc và hiểu vợ con dẫn tới vợ chồng mặc dù sống chung nhà nhƣng không còn tình cảm, sống ly thân với nhau. Thậm chí con gái lớn 13 tuổi bị bệnh gì, tại sao phải nghỉ học ông cũng không biết. Do đó, nguyên nhân vợ chồng không còn tình cảm với nhau chủ yếu là do ông Q không quan tâm đến vợ con. Nay ông Q yêu cầu đƣợc ly hôn, bà H cũng đồng ý nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Q.

Về con chung: Giữa ông Trần Ngọc Q và bà Trần Thị H có 02 con chung tên Trần Thái H, sinh ngày 21/02/2007 và Trần Hồng L, sinh ngày 30/5/2012. Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên hòa giải ông Q và bà H thỏa thuận giao cả hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dƣỡng, tuy nhiên sau đó ông Q xin thay đổi ý kiến, ông Q yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi cả hai con hoặc nếu không đƣợc nuôi cả hai con thì ông yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu Trần Hồng L và đồng ý giao cháu Trần Thái H cho bà H trực tiếp nuôi dƣỡng, không ai phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Bà H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cả hai con chung và yêu cầu ông Q phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng/02 con. Tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng thỏa thuận người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”. Ông Q và bà H không thỏa thuận đƣợc về ngƣời trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ quyết định việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dƣỡng trên cơ sở xem xét về mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chƣa thành niên.

Xét trong thời gian vợ chồng chung sống, bà H là ngƣời ở nhà nội trợ trực tiếp nuôi dƣỡng hai con. Đồng thời cháu H và cháu L đều có nguyện vọng đƣợc sống với mẹ, không muốn sống với ba. Do đó, không thể giao cả hai cháu cho ông Q nuôi dƣỡng. Hơn nữa, việc ông Q yêu cầu đƣợc nuôi cháu L cũng không phù hợp, vì ông Q thƣờng xuyên đi làm đêm sẽ không có điều kiện trực tiếp chăm sóc cho con, đồng thời sau khi cha mẹ ly hôn hai cháu cần đƣợc sống cùng nhau nhằm tránh gây ra sự mất mát, tổn thƣơng thêm về mặt tình cảm mà các cháu phải chịu khi cha mẹ ly hôn. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của ngƣời phụ nữ và trẻ em khi ly hôn cần giao cả hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà Trần Thị H yêu cầu ông Trần Ngọc Q phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi 02 con với mức 2.000.000 đ/tháng (mỗi con 1.000.000 đồng) là phù hợp, ông Q cũng đồng ý nên chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn của ông Trần Ngọc Q với bà Trần Thị H. Không chấp nhận yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của ông Trần Ngọc Q.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với quy địn của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Ngọc Q chịu án phí ly hôn và án phí cấp dƣỡng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5, Điểm đ Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 và Điểm đ Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Ngọc Q đƣợc ly hôn với bà Trần Thị H, theo giấy chứng nhận kết hôn số 25/2006, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố P, tỉnh H cấp ngày 30/8/2006.

2. Về con chung: Ông Trần Ngọc Q giao hai con chung là cháu Trần Thái H, sinh ngày 21/02/2007 và cháu Trần Hồng L, sinh ngày 30/5/2012 cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng.

Sau khi ly hôn, bà Trần Thị H phải tạo điều kiện cho ông Trần Ngọc Q có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông Q thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.

3. Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: ông Trần Ngọc Q phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 1.000.000 (một triệu) đồng/tháng/con, tổng cộng 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng/02 con.

Kể từ ngày bà Trần Thị H có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Trần Ngọc Q không thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng thì hàng tháng ông Trần Ngọc Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Ngọc Q phải chi ̣u 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phi ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dƣỡng, đƣợ́

c khấu trƣ̀ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền ta ̣m ƣ́ ng án phi đá nô ̣̃ p theo biên lai số 0040292 ngày 16/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, ông Trần Ngọc Q còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

6. Nguyên đơn ông Trần Ngọc Q và bị đơn bà Trần Thị H có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ