- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thiện Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Thiện Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2019/HS-ST Ngày 16-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Hoàng
- Bà Dương Thị Phụng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Sang - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 54/2019/ QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Thiện Q, sinh năm 1993 tại xã TĐ, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú: Số 132/9 ấp TH, xã TĐ, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thiện T, sinh năm 1968 và bà Diệp Thị Bích C, sinh năm 1971; vợ Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1991; con: 01 người; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/9/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 15/3/2013; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Diệp Thị Bích C, sinh năm: 1971; nơi cư trú: Số 132/9 ấp TH, xã TĐ, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Lê Thanh T2, sinh năm: 1999; nơi cư trú: Số 77/9 Khóm 6, Phường A, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm: 1991; nơi cư trú: Số A313 Khóm 6, Phường B, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
3. Anh Lê Thanh Tuấn A, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Số A83 Khóm 3, Phường C, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1960; nơi cư trú: Số 92/48 đường TP, Phường A, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Thiện Q bắt đầu sử dụng và nghiện ma túy từ tháng 8 năm 2018. Để có tiền sử dụng chất ma túy, từ tháng 11/2018 cho đến ngày bị bắt giữ 23/01/2019 bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/01/2019 khi bị cáo Trần Thiện Q đang ở nhà trọ tại số: 67/89 đường PCĐ, Khóm 2, Phường C, thành phố VL có một người phụ nữ tên H (không rõ địa chỉ) dùng số điện thoại 0794958790 gọi đến số 0778752570 của bị cáo hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Methamphetamin, bị cáo hẹn giao ma túy cho chị H tại khu vực cầu CS, Phường B, thành phố VL. Sau đó bị cáo điện thoại cho người đàn ông tên (không rõ địa chỉ) hỏi mua một tép ma túy rồi đem về nhà trọ phân ra thành hai phần b ng nhau, một phần bị cáo giữ lại để sử dụng, một phần mang đến bán lại cho chị H. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang điều khiển xe đến điểm hẹn bán ma túy cho chị H tại khu vực T 67 đường PCĐ, Khóm 2, Phường C, thành phố VL bị lực lượng Công an thành phố VL phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải của bị cáo có 01 bịt nilong trong suốt hàn kín bên trong có chất tinh thể trong suốt, kiểm tra thu giữ tại vị trí đầu đ n xe bên phải xe mô tô biển số 64B2-077.48 bị cáo đang điều khiển có 01 bịt ni long trong suốt hàn kín bên trong có chất tinh thể trong suốt được dán dưới đoạn băng keo màu đen, việc kiểm tra, thu giữ vật chứng có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị L. Bị cáo đã thừa nhận đang trên đường giao chất ma túy cho chị H thì bị bắt giữ.
Quá trình điều tra bị cáo còn thừa nhận đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho nhiều người khác như sau:
- Bị cáo đã bán ma túy cho anh Lê Thanh T2 khoảng 10 lần mỗi lần từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng tại khu vực gần Cầu CC, trước c ng Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long và tại khu vực trước nhà trọ ĐD thuộc Phường B, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị cáo đã bán ma túy cho anh Nguyễn Thanh T3 khoảng 02 lần mỗi lần từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng tại khu vực nhà trọ anh Tiến thuê ở Khóm 4, Phường B, thành phố VL.
- Bị cáo đã bán ma túy cho anh Lê Thanh Tuấn A khoảng 02 lần mỗi lần từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng tại khu vực trước nhà A83 Khóm 3, Phường C thành phố VL.
Ngoài ra, bị cáo còn thừa nhận đã bán chất ma túy cho nhiều người khác nhưng không xác định được họ, tên và địa chỉ.
Kết luận giám định số 50/KL Đ - PC09 ngày 24/01/2019 của Phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long xác định: M u tinh thể trong suốt bên trong 02 bịt nilong thu giữ của bị cáo Trần Thiện Quang là ma túy, có khối lượng 0,2817 gam, loại Methamphetamin.
Bản cáo trạng số: 52/CT-VKSND TPVL ngày 20/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Trần Thiện Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VL tham gia xét xử đã nêu quan điểm:
- iữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thiện Q từ 7 đến 8 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Lê Tấn Đ và chữ ký của giám định viên Nguyễn Thành Tr, có đóng dấu của Phòng K thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long; 01 (một) đoạn băng keo màu đen;
Tịch thu sung qu 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng, có sim sử dụng bên trong 0778752570.
Trả lại cho bà Diệp Thị Bích C 01 (một) xe mô tô biển kiển soát 64B2-077.48 đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 660.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Buộc bị cáo nộp số tiền thu lợi bất chính là 1.000.000 đồng.
Án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thiện Q nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Diệp Thị Bích C yêu cầu nhận lại 01 (một) xe mô tô biển kiển soát 64B2-077.48 đã qua sử dụng.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tham gia tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố VL, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VL và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ để kết luận trong khoảng thời gian từ tháng 11/2018 đến ngày bị bắt giữ 23/01/2019 bị cáo Trần Thiện Q đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho nhiều người như: anh Lê Thanh T2, anh Nguyễn Thanh T3, anh Lê Thanh Tuấn A và một người phụ nữ tên H trên địa bàn các Phường A, B và D, thành phố VL. Hành vi đó đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, ma túy là chất gây nghiện cực độc hại đối với con người; hậu quả tác hại từ hành vi của người nghiện ma túy đã và đang gây ra cho bản thân, gia đình người nghiện và xã hội là đặc biệt nghiêm trọng. Vì thế, mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy phải được đặc biệt nghiêm trị.
Hành động phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và tình hình trật tự, trị an xã hội; bản thân là người nghiện chất ma túy, hơn ai hết bị cáo nhận thức rõ tác hại đặc biệt nguy hiểm của ma túy đối với con người, lẽ ra phải từ bỏ b ng cách thực hiện các biện pháp để cai nghiện, ngược lại để có tiền nh m thỏa mãn cho việc sử dụng chất ma túy, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm và nghiêm trị của pháp luật nên đã lao vào con đường phạm tội. Phạm tội tập trung nhiều tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đó là: Phạm tội nhiều lần; phạm tội đối với nhiều người; hơn nữa bản thân bị cáo đã từng bị kết án, đã được pháp luật cải tạo, giáo dục nhưng không chịu cải hối, nên đã tiếp tục phạm tội, là thuộc phần tử khó giáo dục, cải tạo; đặc biệt hiện nay trên địa bàn thành phố VL loại tội phạm này đang diễn ra ngày một gia tăng, gây bức xúc trong dư luận xã hội, đòi hỏi pháp luật phải nghiêm trị. Vì thế cần phải trừng phạt bị cáo nghiêm khắc mới đảm bảo tác dụng ngăn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thật khai báo nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Lê Tấn Đ và chữ ký của giám định viên Nguyễn Thành Tr, có đóng dấu của Phòng K thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long; 01 (một) đoạn băng keo màu đen do là vật chứng dùng vào việc phạm tội.
- Tịch thu sung qu 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng, có sim mang số 0778752570 là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
- Buộc bị cáo nộp lại 1000.000 đồng do đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội sung công qu nhà nước; tạm giữ 660.000 đồng đã thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bà Diệp Thị Bích C 01 (một) xe mô tô biển kiển soát 64B2-077.48 đã qua sử dụng do đây là tài sản của bà C giao cho bị cáo làm phương tiện đi lại, bà Chi không biết bị cáo sử dụng xe để làm phương tiện phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thiện Q nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Trần Thiện Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thiện Q 9 (chín) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 23/01/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Lê Tấn Đ và chữ ký của giám định viên Nguyễn Thành Tr, có đóng dấu của Phòng K thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long; 01 (một) đoạn băng keo màu đen.
- Tịch thu sung qu 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng, có sim mang số 0778752570.
- Buộc bị cáo nộp lại 1000.000 đồng thu lợi bất chính sung công qu nhà nước; tạm giữ 660.000 đồng đã thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bà Diệp Thị Bích C 01 (một) xe mô tô biển kiển soát 64B2-077.48 đã qua sử dụng.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thiện Q nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo và người có quyền lợi liên quan vụ án biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long để xin xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - - TAND tỉnh Vĩnh Long; - - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - - Sở Tư pháp Vĩnh Long; - - VKSND thành phố Vĩnh Long; - - Đội điều tra CA thành phố Vĩnh Long; - - Cơ quan THAHS - CA thành phố Vĩnh Long; - - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Long; - - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Long; - - UBND xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh VL; - - Bị cáo và người có QLLQVA ; - - Lưu hồ sơ vụ án; - - Lưu TAND thành phố Vĩnh Long. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Ung Văn Hùng |