- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tường Thị Bích H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tường Thị Bích H phạm tội đánh bạc
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2019/HS-ST Ngày: 19/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiền – Thẩm tra viên TAND thành phố Phúc Yên.
Đại diện VKSND thành phố Phúc Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 19 tháng 8 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXX ST – HS ngày 14/8/2019 đối với bị cáo.
Họ và tên Tường Thị Bích H, sinh năm 1967 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 8, phường TT, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Trú tại: Tổ 4, phường TN, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Bán hàng nước; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N1; con ông Tường Thế V (đã chết) và bà Bá Thị K (đã chết); chồng: Nguyễn Văn L (đã chết), con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/7/2019 đến ngày 15/7/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt
Người làm chứng:
- Chị Đỗ Thị Bích N, sinh năm 1999 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Sơn H1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 25 ngày 12/7/2019, Tường Thị Bích H đang bán hàng nước tại tổ 4, phường TN, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc kết hợp bán số lô, số đề cho khách để kiếm lời thì có Đỗ Bá N1 - SN: 1997, HKTT: Xã T, Sóc Sơn, Hà Nội và Đỗ Thị Bích N - SN: 1999 ở Xã N, Sông Lô, Vĩnh Phúc vào quán ngồi uống nước. Khoảng 02 phút sau thì Đinh Quang D - SN: 1999, HKTT: Xã Đ, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc cũng đến quán uống nước. Sau đó, N1 hỏi H cho mua số lô, số đề thì H đồng ý bán.
N1 và H thống nhất cách thức đánh lô, đề như sau: Một điểm lô H bán ra với giá 23.000đồng, kết quả trúng lô sẽ lấy kết quả của hai số cuối các giải của xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 12/7/2019 để tính, nếu trúng một điểm lô sẽ được 80.000đồng; đối với số đề sẽ tính theo 2 số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 12/7/2019, nếu trúng thì đánh 1.000đồng sẽ được hưởng 70.000đồng. H bán cho N1 04 số lô: 05, 50, 07, 70 mỗi số 30 điểm x 23.000đồng = 2.760.000đồng và bán cho N1 04 số đề: 05, 50, 07, 70 mỗi số là 100.000đồng = 400.000đồng. Tổng số tiền H bán số lô, số đề cho N1 là 3.160.000đồng. Sau đó, H ghi các số lô, số đề N1 mua vào 01 mảnh vỏ bao thuốc lá Thăng Long để theo dõi, rồi ghi lại các số lô, số đề ra 01 tờ tích kê và đưa cho N1. Sau khi nhận tích kê, N1 đưa cho H số tiền 3.200.000đồng (Trong đó trả 3.160.000đồng tiền mua các số lô, số đề; 15.000đồng N1 trả tiền uống nước). H cầm tiền rồi trả lại cho N1 25.000đồng tiền thừa còn lại.
Cũng với cách thức như trên, khi H vừa bán các số lô, số đề cho N1 xong thì Đinh Quang D cũng hỏi mua số lô thì H đồng ý. H bán cho D 02 số lô: 86, 57 mỗi số 50 điểm lô x 23.000đồng = 2.300.000đồng . Sau đó, H ghi các số lô D mua vào 01 mảnh vỏ bao thuốc lá Thăng Long vừa ghi của N1 trước đó để theo dõi, D trả cho H số tiền 2.300.000đồng. Khi H đang cầm tiền của D ở trên tay thì ngay lúc này Công an thành phố Phúc Yên bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại túi áo ngực bên trái số tiền 3.200.000đồng ( trong đó có 3.160.000đồng là số tiền H bán số lô, số đề cho Đỗ Bá N1). Thu tại bàn tay bên phải số tiền 2.300.000đồng là số tiền H bán số lô, số đề cho Đinh Quang D. Thu trong túi xách của H số tiền 830.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen. Thu 01 bút bi mực màu xanh, 01 tờ giấy được cắt ra từ vỏ bao thuốc Thăng Long, H có ghi các số lô, số đề bán cho N1 và D.
- Tạm giữ của Đỗ Bá N1 01 tờ tích kê có ghi các số lô, số đề N1 mua của Tường Thị Bích H. Thu của N1 số tiền 25.000đồng.
Như vậy tổng số tiền bị cáo Tường Thị Bích H đánh bạc là: 3.160.000đồng + 2.300.000đồng = 5.460.000 đồng. Bị cáo H khai nhận toàn bộ số tiền 5.460.000đồng bán số lô, số đề cho N1 và D nêu trên, H chuyển lại cho người N1 thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ để kiếm lời nhưng chưa kịp chuyển thì bị bắt quả tang. Hiện người N1 thanh niên Cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ.
Đối với hành vi đánh bạc của Đỗ Bá N1 và Đinh Quang D Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa phương là địa chỉ ban đầu mà N1 và D đã khai nhưng không có ai có nhân thân lý lịch như trên nên khi nào làm rõ xử lý sau.
Quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo Hòa đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình như đã nêu trên.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 61/QĐ – VKSPY ngày 06/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố Tường Thị Bích H về tội “Đánh bạc”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên được phân công duy trì công tố tại phiên tòa đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1,2, 5 Điều 65 BLHS năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng về tội Đánh bạc. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án xử lý theo quy định pháp luật
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên. Xét thấy bị cáo Tường Thị Bích H thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, có lý lịch, nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo nên đủ căn cứ áp dụng thủ tục rút gọn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà Tường Thị Bích H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan công an lập ngày 12/7/2019, phù hợp lời khai người làm chứng, với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16 giờ 25 ngày 12/7/2019, tại khu vực tổ 4, phường TN, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Tường Thị Bích H có hành vi bán số lô, số đề cho Đỗ Bá N1 và Đinh Quang D với số tiền là 5.460.000 đồng thì bị bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Tường Thị Bích H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Phúc Yên. Hành vi của H đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đồng…, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000đồng đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho bị cáo hưởng án treo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Quyết định như vậy là có căn cứ thể hiện sự kHn hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện sống một mình không chồng, không con, phải thuê nhà trọ ở không có tài sản nên Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Cần tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 5.460.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút mực màu xanh. Trả lại cho bị cáo H số tiền 840.000đồng, 01 điện thoại di động nokia 105 không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về thủ tục tố tụng : Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên không đặt ra giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Tường Thị Bích H phạm tội đánh bạc
Xử phạt: Tường Thị Bích H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân phường TN, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 5.460.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút mực màu xanh. Trả lại cho bị cáo H số tiền 840.000đồng, 01 điện thoại di động nokia 105, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS ND Thành phố Phúc Yên - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc - CQĐT CATP Phúc Yên; - THA hình sự + dân sự Phúc Yên; - Bị cáo; - Sở tư pháp Vĩnh Phúc; - UBND phường TT, TN; - Lưu: VP + HS. | HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Bích |