- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ THỊ NG ĐÁNH BẠC - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2019/HS-ST Ngày 23-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc An.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tảo;
2. Bà Nguyễn Thị Tám.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Diên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/ Lê Thị Ng, sinh năm 1970, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); có chồng là Trương Văn Ng; con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự tại Quyết Định xử phạt hành chính số 68/QĐ-XPHC ngày 03/4/2018, của Công an xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ phạt Lê Thị Ng 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, đến nay chưa nộp phạt, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo Lê Thị Ng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/4/2019 tại xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh cho đến nay; có mặt.
2/ Phạm Thị H, sinh năm 1982 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Th (đã chết) và bà Lê Thị Đ; có chồng là Nguyễn Văn L; con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự, Quyết Định xử phạt hành chính số 65/QĐ-XPHC ngày 03/4/2018, của Công an xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, đã căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ phạt Phạm Thị Hạnh 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, nộp phạt ngày 25/4/2018, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo Phạm Thị H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/4/2019 tại xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh cho đến nay, có mặt.
3/ Trần Thị D, sinh năm 1981, tại Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ch (đã chết) và bà Đặng Thị S; có chồng là Nguyễn Minh Ph; con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: có 1 tiền sự, Quyết Định xử phạt hành chính số 42/QĐ-XPHC Ngày 20/02/2018, của Công an xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ phạt Trần Thị D 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, chưa nộp phạt, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo Trần Thị D bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/5/2019 tại xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh cho đến nay, có mặt.
4/ Trương Thị Hồng Y, sinh năm 1977, tại Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp, xã, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T (đã chết) và bà Phan Thị D (đã chết); có chồng là Lê Văn Kh; con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án: Không; tiền sự: có 1 tiền sự, Quyết Định xử phạt hành chính số 43/QĐ-XPHC Ngày 20/02/2018, của Công an xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ phạt Trương Thị Hồng Y 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, chưa nộp phạt, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo Trương Thị Hồng Y bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/5/2019 tại xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn Kh, sinh năm 1969; cư trú tại: Ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, có đơn xin giải quyết xét xử mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22 tháng 02 năm 2019 tại quán cà phê của Lê Thị Nga, thuộc ấp Thạnh Tây, xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D, Trương Thị Hồng Y cùng với Phạm Thị Kim L, Lê Thị Ngọc M, Nguyễn Thị Bé H, Nguyễn Thị H, cùng ngụ ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài xi cu. Nga sử dụng 02 bộ bài Tây có sẵn tại quán để cùng với H, D, Y, L, M, Bé H và H đánh bạc, quy định mỗi một người đặt 5.000 đồng. Sòng bạc diễn ra đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì bị Công an xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh kiểm tra, phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính. Tổng số tiền dùng để đánh bạc xác định được là 2.507.000 đồng. Sòng bài hoạt động không có người tổ chức, rủ rê, lấy tiền xâu hay bố trí người cảnh giới để hoạt động.
* Quá trình điều tra đã làm rõ hành vi đánh bạc cụ thể của các bị cáo như sau:
- Lê Thị Ng sử dụng 1.500.000 đồng dùng để đánh bạc không thắng không thua, khi bị phát hiện đã tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng.
- Phạm Thị H mang theo 410.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia đặt 03 ván thua mỗi ván 5.000 đồng, tổng cộng thua hết 15.000 đồng, khi bị phát hiện tạm giữ số tiền 395.000 đồng.
- Trần Thị D mang theo 100.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia đặt 01 ván thua nhưng chưa trả tiền thì bị phát hiện nên còn 100.000 đồng và bị tạm giữ.
- Trương Thị Hồng Y khi đi mang theo 40.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia đánh bạc thắng được 25.000 đồng. Khi phát hiện tạm giữ số tiền 65.000 đồng.
- Lê Thị Ngọc M mang theo 210.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị phát hiện thua 10.000 đồng nên còn 200.000 đồng và bị tạm giữ.
- Nguyễn Thị H mang theo 37.000 đồng dùng để đánh bạc, thua hết 10.000 đồng, số tiền còn lại đã dùng để trả tiền nước.
- Phạm Thị Kim L mang theo 20.000 đồng dùng để đánh bạc, đặt 03 ván thua hết 15.000 đồng sau đó nghỉ chơi đi về nhà.
- Võ Thị Bé H mang theo 190.000 đồng dùng để đánh bạc, thắng 10.000 đồng, khi bị phát hiện tạm giữ 200.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
* Thu tại hiện trường chiếu bạc gồm:
- 02 bộ bài tây đã sử dụng;
- Tiền thu tại chiếu bạc 1.895.000 đồng;
* Thu giữ của các bị cáo: Không.
* Kết quả kê biên tài sản:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên ra Lệnh kê biên số 16/L-CQCSĐT ngày 14/6/2019, kê biên quyền sử dụng đất diện tích đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm khác diện tích 301,6 m2, thửa đất số 927, tờ bản đồ số 6, tại ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh của do Trương Thị Hồng Y và Lê Văn Kh đứng tên.
* Đối với hành vi đánh bạc của Phạm Thị Kim L, Lê Thị Ngọc M, Võ Thị Bé H và Nguyễn Thị H do không cấu thành tội phạm nên Công an xã B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Tại Bản cáo trạng số 57/CT-VKS-KSĐT ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D, Trương Thị Hồng Y mỗi bị cáo từ 30.000.000 – 40.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận thêm.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/02/2019 tại quán cà phê của Lê Thị Ng thuộc ấp A, xã A, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D, Trương Thị Hồng Y đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xi cu được thua bằng tiền. Mặc dù tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc được xác định là 1.850.000 đồng nhưng các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H Trần Thị D, Trương Thị Hồng Y là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nay lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, do đó hành vi của các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D, Trương Thị Hồng Y đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó bản Cáo trạng số 57/CT-VKS-KSĐT ngày 11/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, có nhiều người tham gia, số tiền đánh bạc có giá trị mặc dù không lớn nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình của người tham gia. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng và có thể phát sinh ra các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất trật tự tại địa phương. Nhằm đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc tại địa phương, giữ gìn trật tự công cộng nói chung và phòng chống các loại tội phạm nói riêng nên cần phải có mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo:
Bị cáo Lê Thị Nga, Phạm Thị H, Trần Thị D, Trương Thị Hồng Y là người người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo Lê Thị Ng là người đã khởi xướng sòng bạc, cung cấp bài cho các con bạc, mở sòng bạc tại nhà kéo theo những người khác tham gia đánh bạc, bị cáo sử dụng số tiền nhiều nhất là 1.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc nhằm thu lợi bất chính nên cần xử bị cáo mức án cao hơn các bị cáo còn lại. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo.
Các bị cáo Phạm Thị H, Trần Thị D chỉ tham gia đánh bạc số tiền ít. Do đó hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức cải tạo giáo dục các bị cáo.
Do đó cần giao các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Trương Thị Hồng Y là ngưởi sử dụng tiền vào đánh bạc ít nhất trong số các bị cáo. Xét điều kiện kinh tế và khả năng thi hành án đối với bị cáo Trương Thị Hồng Y nên cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo Trương Thị Hồng Y là đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo Trương Thị Hồng Y.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:
Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo thì bị cáo Lê Thị Nga, Phạm Thị H, Trần Thị D, Trương Thị Hồng Y là ít nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.
Các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H và Trần Thị D có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức cải tạo giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo Ng là người khởi xướng, cung cấp bài cho sòng bài hoạt động, dùng số tiền lớn để tham gia sát phạt nhau do đó cần phải xử bị cáo mức án cao hơn các bị cáo khác nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Các bị cáo H, D dùng số tiền không lớn do đó hành vi phạm tội của hai bị cáo tương đương nhau.
Do đó, cần giao các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Xét điều kiện kinh tế và khả năng thi hành án đối với bị cáo Trương Thị Hồng Y nên cần áp dụng hình phạt chính là hình tiền đối với các bị cáo Trương Thị Hồng Yến cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Hình phạt bổ sung:
Các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D phạt bổ sung 10.000.000 – 20.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Xử lý tài sản kê biên:
Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản của Cơ quan cảnh sát điều Công an tỉnh Tây Ninh đối với quyền sử dụng đất đối với diện tích 301,6 m2, thửa đất số 927, tờ bản đồ số 6, tại ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh do Trương Thị Hồng Y và Lê Văn Kh đứng tên.
Xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 1.895.000 đồng thu tại chiếu bạc là vật chứng của vụ án nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
- Đối với 02 bộ bài tây đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội của các bị cáo, do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Y mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Ng 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Thị Ng.
Giao bị cáo Lê Thị Ng cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phạm Thị H.
Giao bị cáo Phạm Thị H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ
1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị D 09 (chín) tháng tù cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Thị D.
Giao bị cáo Trần Thị D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
1.4 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Thị Hồng Y số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
2. Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Ng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt Phạm Thị H, Trần Thị D mỗi bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ Số tiền thu tại chiếu bạc 1.895.000 (một triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn) đồng.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy:
+ 02 (hai) bộ bài tây đã sử dụng.
4. Xử lý đối với tài sản kê biên:
Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản của Cơ quan cảnh sát điều Công an tỉnh Tây Ninh đối với quyền sử dụng đất đối với diện tích 301,6 m2, thửa đất số 927, tờ bản đồ số 6, tại ấp A, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh do Trương Thị Hồng Y và Lê Văn Kh đứng tên cho đến khi bị cáo Trương Thị Hồng Y chấp hành xong các khoản tiền phạt và án phí.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Lê Thị Ng, Phạm Thị H, Trần Thị D và Trương Thị Hồng Ymỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Các bị cáo được quyền kháng cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương.
7. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Phòng KTNV và THA. TAT; - Phòng PV 27 Công an tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Công an huyện Tân Biên; - Chị cục THADS huyện Tân Biên; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án.(D). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Ngọc An |