vanban.org

Bản án 57/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N, buộc anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Ngọc B có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 20.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Ngọc B phải liên đới chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Hồng N - Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Ngọc B - Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N, buộc anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Ngọc B có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 20.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2019/DS-ST
Ngày: 24-10-2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Lộc.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Nguyên Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 218/2019/TLST- DS ngày 25 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2019/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1973; “Có mặt”

Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn:

- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1980; “Vắng mặt”

- Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm: 1982; “Có mặt”

Cùng địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn – anh Nguyễn Văn L: Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm: 1982; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền ngày 25/9/2019). “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/6/2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Hồng N - trình bày:

Ngày 16/11/2018 (Nhằm ngày 10/10/2018 Âm lịch), anh L, chị B có vay của chị 10.000.000 đồng để xoay sở trong gia đình. Đến ngày 07/01/2019 (Nhằm ngày 02/12/2018 Âm lịch), chị B tiếp tục vay thêm 10.000.000 đồng. Cả hai lần vay đều có lập giấy nợ do chị B viết và ký tên nhận nợ, không thỏa thuận lãi suất, thỏa thuận miệng thời hạn trả là đến Tết âm lịch năm 2019. Cho đến hiện tại, anh L, chị B vẫn chưa trả cho chị tổng nợ gốc 20.000.000 đồng.

Nay chị yêu cầu vợ chồng anh L, chị B trả số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn – chị Nguyễn Thị Ngọc B – trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn năm 2001. Vợ chồng chị có vay của chị N 20.000.000 đồng đúng như chị N trình bày, hứa sẽ trả khi chị N có yêu cầu. Về lãi suất, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 60.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng đối với khoản vay ngày 16/11/2018 (Nhằm ngày 10/10/2018 Âm lịch) và 100.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng đối với khoản vay 10.000.000 đồng ngày 07/01/2019 (Nhằm ngày 02/12/2018 Âm lịch). Chị trình bày có trả lãi cho chị N nhưng không có giấy tờ, chứng cứ gì chứng minh. Cho đến hiện tại, chị N đã nhiều lần yêu cầu trả tiền nhưng vợ chồng chị vẫn chưa trả cho chị N tổng nợ gốc 20.000.000 đồng,

Tại phiên tòa, chị và anh L đồng ý trả cho chị N số tiền 20.000.000 đồng, tuy nhiên, xin được trả dần hàng tháng 1.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ.

Bị đơn – anh Nguyễn Văn L – trình bày trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thông qua ngƣời đại diện hợp pháp là chị Nguyễn Thị Ngọc B:

Thống nhất với ý kiến của chị B, anh sẽ cùng chị B có nghĩa vụ trả số tiền 20.000.000 đồng cho chị N nhưng xin được trả dần hàng tháng 1.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đều đã tuân thủ theo đúng quy định. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, buộc anh L, chị B liên đới trả số tiền 20.000.000 đồng, không tính lãi. Anh L, chị B chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn – anh Nguyễn Văn L - vắng mặt nhưng đã ủy quyền tham gia tố tụng cho chị Nguyễn Thị Ngọc B. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh L.

Về nội dung vụ án:

Về giá trị pháp lý của hợp đồng vay tài sản:

Anh L và chị B thừa nhận có vay của chị N số tiền 20.000.000 đồng theo đúng giấy nợ đề ngày “10/10/2018” và ngày “02/12/2018” chị N cung cấp cho Tòa án.

Các đương sự khai không thống nhất về lãi suất, thời hạn trả và không có chứng cứ nào chứng minh cho lời khai của mình. Trong giấy nợ lại không thể hiện lãi suất và thời hạn trả. Vì thế, Tòa án căn cứ vào chứng cứ là giấy nợ, xác định việc vay mượn nợ giữa chị N và anh L, chị B là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và không có lãi được điều chỉnh theo quy định tại Điều 463, 469 Bộ luật Dân sự 2015.

Về việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng vay tài sản giữa hai bên:

Vợ chồng chị B và anh L xác định hiện vẫn còn nợ chị N toàn bộ số nợ gốc là 20.000.000 đồng theo đúng như yêu cầu khởi kiện của chị N. Anh chị xác định đây là nợ chung của vợ chồng và đồng ý trả số nợ này. Vì thế, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, buộc vợ chồng anh L, chị B liên đới trả cho chị N số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp.

Về yêu cầu xin trả dần của bị đơn: Xét thấy, trong giấy nợ đã lập, hai bên không thỏa thuận về cách thức trả dần, tại phiên tòa, chị N cũng không đồng ý cho trả dần. Vì thế, căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin trả dần của bị đơn.

Chị N không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị này phù hợp với quy định của pháp luật và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của chị N được Hội đồng xét xử chấp nhận nên anh L và chị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466, 469 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N, buộc anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Ngọc B có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Ghi nhận chị N không yêu cầu tính lãi.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Ngọc B phải liên đới chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị Hồng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho chị N 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019985 ngày 25/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ