- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của Bà Đinh Thị Thu T. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngày 20/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2019/DS-PT Ngày 10-6-2019 V/v: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành
Các Thẩm phán: Ông Vũ Thanh Liêm
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thanh Thủy, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Nguyễn Xuân Thanh kiểm sát viên.
Vào ngày 10 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2018/TLPT-DS ngày 14 tháng 12 năm 2018; về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 38/2019/QĐ-PT ngày 07/ 6/2019, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Thu T
Địa chỉ: số 905 (Cũ 114) Đường P1, thành phố K, tỉnh Kon Tum.Có mặt
* Bị đơn:
- Ông Phạm Văn H
ĐKHKTT: số 141 (Cũ 54) Đường H3, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt
Chỗ ở: Số 205 Đường N1, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (V
) Có mặt.
Địa chỉ: 157 đường P2, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
- Ông Phạm Văn D.
Địa chỉ: Đường K1, Tổ 10, phường D1, thành phố K, tỉnh Kon Tum.Có đơn xin xét xử vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố K, tỉnh Kon Tum.
Địa chỉ: số 542 đường N2, thành phố K, tỉnh Kon Tum;
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND thành phố K là bà Phạm Thị Bích P- Phó Trưởng phòng tài nguyên và môi trường thành phố K (Văn bản ủy quyền số 1324 ngày 22/6/2018).
Địa chỉ: số 37 đường N3, phường T5, thành phố K, tỉnh Kon Tum. .Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bà Lê Thị T2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị T2 là ông Phạm Văn D (Văn bản ủy quyền ngày 25/5/2018)
Cùng địa chỉ: Đường K1, Tổ 10, phường D1, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
- Ông Nguyễn Hữu L
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu L là bà Đinh Thị Thu T (Văn bản ủy quyền ngày 27/02/2018)
Cùng địa chỉ: số 905 (Cũ 114) Đường P1, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
- Bà Phạm Thị C Người đại diện theo ủy quyền của bà C là ông Phạm Văn H
ĐKHKTT: số 141 (Cũ 54) Đường H3, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
Chỗ ở: Số 205 Đường N1, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22
T trình bày:
D1,
ông D
HB
D
2 ông
D1 Văn H
H
T
n K
T
K
T UBND
2
T
T
D
ông D
D
T
T
T
2 1996,2 m2
H
H
-em 750 m2
T 2000 m2
T
T
-
T
D1 Văn H
H
D
T
D
T
H
T
T
D
-ông
2
T.
-
ại diện hợ
ủa Ủy ban nhân dân thành phố K
H1 Ủy ban nhân dân thành phố K đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T là đúng theo trình tự quy đị
ậ
T UBND
T Nên UBND
T
T
T
T
D1
D
D
2 Văn S,
D
, nhưng sau
2 ông
T
D
T
H Minh T1
T, như v
T
T ông D đơn.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngày 20/9/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum quyết định: tố tụng dân sự 2015. Điều 30, 31 Luật đất đai năm 1993; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đinh Thị Thu T đề ngày 22/02/2016
về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhậ
ển nhượ
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 02-10-2018 nguyên đơn bà Đinh Thị Thu T kháng cáo Bản án Dân sự sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngày 20/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum với nội dung sau đây: Đề nghị Tòa án cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án số: 12/2018/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum để giải quyết lại một cách công bằng và đúng quy định của pháp luật.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Ủy ban nhân dân Thành phố K ban hành quyết định số 1368/QĐ - UBND ngày 17 tháng 4 năm 2019 về việc thu hồi hủy bỏ Quyết định số 2258/QĐ – UBND ngày 06/9/2017 và Quyết định 2588/QĐ-UBND ngày 20/10/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố K.
Tại phiên Tòa phúc thẩm ông Phạm Văn H có đơn yêu cầu hủy quyết định số 1368/QĐ – UBND ngày 17/4/2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố K và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp lại cho bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bà Đinh Thị Thu T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự không hòa giải với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình, đối với ông Phạm Văn D là bị đơn trong vụ kiện nhưng không thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của bị đơn. Về nội dung vụ án; Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Đinh Thị Thu T.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ, hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/02/2016 và Đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 27/03/2018 (BL số 273) thì nguyên đơn Đinh Thị Thu T đề nghị Tòa án cấp sơ thấm giải quyết 2 nội dung:
- Yêu cầu ông H trả lại diện tích đất 1996,2m2 đã lấn chiếm của bà T, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00614 do UBND thành phố K cấp ngày 7/01/2011.
- Yêu cầu TAND tỉnh Kon Tum giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà T và ông Phạm Văn D được ký kết ngày 10/10/2002 là có hiệu lực pháp luật, làm căn cứ để UBND thành phố K cấp lại giấy chứng nhận QSD đất cho bà T theo đúng trình tự.
Xét đơn kháng cáo của bà Đinh Thị Thu T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Kháng cáo về tố tụng: Trong qua trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, ông H có làm đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho bà T. Sau đó ông H có đơn yêu cầu tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, các đương sự không có bên nào kháng cáo, và không bị kháng nghị, sau đó Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.Do vậy kháng cáo của bà T cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng để đề nghị hủy án là không có căn cứ, nội dung kháng cáo nêu trên không được chấp nhận.
Kháng cáo về nội dung vụ án: Đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và ông D.
Xét hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Phạm Văn D với bà Đinh Thị Thu T (BL số 113; 215): Ngày 10/10/2002 ông Phạm Văn D viết giấy sang nhượng 2000m2 đất tại khu lò gạch của Ông cho bà Đinh Thị Thu T, lô đất có tứ cận như sau:
Phía Đông giáp: ông Lê Văn G;
Phía Tây giáp: Ông Phạm Văn S;
Phía Nam giáp: Phạm T4;
Phía Bắc giáp: Phạm Thị Hồng H2.
Ông D cam đoan diện tích trên không có ai tranh chấp hay kiện tụng gì, và giao đầy đủ đất cho bà T; đến năm 2010 bà T làm bìa đỏ (BL 271).
Bà T trình bày: Năm 2010 tôi làm hồ sơ đề nghị Phòng tài nguyên môi trường thành phố K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2011, UBND thành phố K đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00614, ngày 7/01/2011, thửa đất số 95, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: Tổ 1, phường D1, thành phố K, diện tích 1996,2m2, nhưng bị ông H lấn chiếm 616m2, bà đã làm đơn khởi kiện.
Ngày 06/9/2017, UBND thành phố K đã ra Quyết định số 2258/QĐ-UBND thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00614, ngày 7/01/2011, thửa đất số 95, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: Tổ 1, phường D1, thành phố K, diện tích 1996,2m2 đã cấp cho bà T. Lý do thu hồi: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp không đúng trình tự, thủ tục, không đủ điều kiện được cấp theo quy định của luật đất đai. Vì vậy, sau khi Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án thì bà T đã làm đơn khởi kiện bổ sung có nội dung: Đề nghị Tòa án công nhận tính hợp pháp của hợp đồng mua bán đất giữa bà T và ông D. làm căn cứ để UBND thành phố K cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T đúng trình tự.
Để có cơ sở giải quyết vụ án, ngày 12/12/2017 TAND tỉnh Kon Tum đã ban hành văn bản số 1263/TAND-TDS, đề nghị UBND thành phố K thể hiện rõ việc bà Đinh Thị Thu T có đủ điều kiện để được cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của luật đất đai hay không?
Ngày 29/12/2017 UBND thành phố K đã có văn bản số 3028/UBND-NC trả lời TAND tỉnh Kon Tum là: “Qua kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSD đất của bà Đinh Thị Thu T và kết luận số 04/KL-UBND ngày 02/8/2017 của Chủ tịch UBND thành phố, UBND thành phố có ý kiến như sau:
- Theo kết luận số 04/KL-UBND ngày 02/8/2017 của Chủ tịch UBND thành phố, kết luận việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho bà Đinh Thị Thu T là sai trình tự, thủ tục và không đủ điều kiện theo quy định (không tổ chức họp lấy phiếu ý kiến của khu dân cư, có sự gian dối về chữ ký xác nhận của chủ sử dụng đất liền kề…). Vì vậy, căn cứ khoản d, điểm 2 điều 106 Luật đất đai 2013, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 2258/QĐ-UBND thu hồi huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00614, ngày 7/01/2011 của bà Đinh Thị Thu T là đúng quy định.
- Còn về điều kiện để cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất cho bà Đinh Thị Thu T: Để có cơ sở khẳng định bà Đinh Thị Thu T có đủ điều kiện để được xem xét cấp Giấy chứng nhận QSD đất với diện tích khoảng 2000m2 tại tổ 1 phường D1 hay không? bà Đinh Thị Thu T phải cung cấp được các giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch (điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo Điều 20 Nghị số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai). Như vậy, căn cứ các quy định trên, đề nghị TAND tỉnh giải quyết vụ án theo quy định”.
Xét Thấy: Về hình thức và nội dung hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà T và ông D đều không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hình thức. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn Đinh Thị Thu T cung cấp cho Tòa án 02 bản hợp đồng chuyển nhượng đất được ký kết giữa Bà với ông Phạm Văn D. Tại phiên tòa sơ thẩm bà T đã thừa nhận: Khi hai bên thỏa thuận chuyển nhượng đất thì chỉ giao kết bằng miệng, không lập thành văn bản. Cách 5-7 ngày sau bà mới nhờ người khác viết hộ giấy sang nhượng đất, nhưng vẫn đề là ngày 10/10/2002. Giấy này chưa được UBND phường chứng thực hoặc Công chứng, ông D chưa có bất kỳ loại giấy tờ về nguồn gốc hợp pháp của diện tích đất nêu trên.Trong hợp đồng có thỏa thuận 2000m2 có ghi rõ tứ cận nhưng không ghi mỗi cạnh dài rộng là bao nhiêu mét,điều này thể hiện rõ các bên không ra trực tiếp nơi có đất để bàn giao cụ thể. Như vậy, đối chiếu với quy định tại điều 502 BLDS thì hợp đồng chuyển QSD đất này chưa đúng về hình thức, thủ tục. Theo quy định tại điều 503 BLDS 2005 thì “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của pháp luật”.Ngày 06/9/2017 Ủy ban nhân dân Thành phố K có Quyết số 2258/QĐ-UBND thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00614, ngày 7/01/2011, thửa đất số 95, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: Tổ 1, phường D1, thành phố K, diện tích 1.996,2m2 đã cấp cho bà T.
Với những chứng cứ và viện dẫn nêu trên, án sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc “yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Phạm Văn D với bà Đinh Thị Thu T ngày 10/10/2002 là hợp pháp” là có căn cứ đúng pháp luật, do vậy đơn kháng cáo của bà T về nội dung yêu cầu công nhận hợp đồng hợp pháp là không có cơ sở chấp nhận.
Xét đơn kháng cáo của bà Đinh Thị Thu T về nội dung “Yêu cầu ông H trả lại diện tích đất 1.996,2m2 đã lấn chiếm của tôi, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00614 do UBND thành phố K cấp ngày 7/01/2011”.
:
T
2258 ngày
T ông
T ông
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Ủy ban nhân dân Thành phố K ban hành quyết định số 1368/QĐ - UBND ngày 17 tháng 4 năm 2019 về việc thu hồi hủy bỏ Quyết định số 2258/QĐ – UBND ngày 06/9/2017 và Quyết định 2588/QĐ-UBND ngày 20/10/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố K.
Xét về hợp đồng mua bán đất giữa bà T với ông D, đối chiếu với sơ đồ đất trong giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà T (Bl 418) và sơ đồ đất hiện nay ông H đang sử dụng và các bên đang có tranh chấp theo biên bản xem xét tại chỗ ngày 09/4/2018 (Bl259) cũng như quá trình làm thủ tục cấp GCNQSD đất cho bà T,thấy rằng:
- Theo hợp đồng chuyển nhượng có ghi tứ cận nhưng không thể hiện các cạnh là bao nhiêu mét.
- Khi lập hợp đồng các bên không đo cắm mốc và bàn giao đất thực tế trên thực địa.
- Khi tiến hành làm giấy chứng nhận QSD đất cho bà T thì các hộ liền kề theo hợp đồng không ký vào “Biên bản xác định ranh giới mốc thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất ngày 15/11/2010” (Có chữ ký nhưng không phải chữ ký của các hộ).Thế nhưng cơ quan có thẩm quyền lại cấp GCNQSD đất cho bà T theo hồ sơ như trên là không đúng thực tế với hiện trạng cũng như vị trí lô đất.
- Đối chiếu giữa sơ đồ đất trong GCNQSD đất cấp cho bà T và sơ đồ, diện tích đất ông H đang sử dụng thì thấy hoàn toàn khác nhau về hình thể, diện tích cũng như về tứ cận.
- Theo giấy chứng nhận QSD đất của bà T là thửa đất số 95 tờ bản đồ 22 diện tích 1996,2m2 (bl 418) tuy nhiên khi xem xét và đối chiếu với bản đồ địa chính lập ngày 12/1/2016 thì thửa đất số 95 là 274,2m2.
Từ những viện dẫn nêu trên thấy rằng việc bà T căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng đất với ông D, và đã được cấp GCNQSD đất nêu trên để cho rằng ông H lấn chiếm đất của bà T là chưa có đủ căn cứ.
Về phía ông H đã chứng minh việc sử dụng đất của Ông là ổn định và có căn cứ, như việc nộp thuế cho nhà nước, cũng như việc đăng ký thành lập tổ hợp tác sản xuất gạch ngói có giấy chứng nhận đăng ký thuế v.v... Án sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của bà T là có căn cứ do vậy đơn kháng cáo của bà T không được chấp nhận.
Tại phiên Tòa hôm nay ông H có đơn đề nghị hủy
T. Xét thấy đây là yêu cầu mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét, mặt khác án sơ thẩm chỉ xem xét và giải quyết yêu cầu của bà T về việc đòi lại đất do ông H lấn chiếm.Do chưa đủ căn cứ nên Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà T, chứ án sơ thẩm không xác lập QSD đất cho bên đương sự nào. Do vậy nếu ông H có căn cứ cho rằng GCNQSD đất cấp cho bà T không đúng pháp luật, và ảnh hưởng đến quyền lợi của Ông thì ông H có thể khởi kiện bằng một vụ kiện hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.
Án phí: Đơn kháng cáo của bà T không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì những căn cứ nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của Bà Đinh Thị Thu T. Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngày 20/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
Căn cứ
khoản
Điều 26; Điều 34;
Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ
các Điều 30, 31 Luật đất đai năm 1993; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đinh Thị Thu T đề ngày
ngày 27/3/2018 về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhậ
ển nhượ
”.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
lai số 0000511 ngày 09/10/2018 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum nên bà T không phải nộp tiếp nữa.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND cấp cao; - TAND tỉnh Kon Tum; - Cục THADS tỉnh Kon Tum; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu trữ, hồ sơ vụ án, Phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mai Xuân Thành |