- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Tý P - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Thị Tý P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2018/HSST Ngày 02/10/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Ly.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Khắc Dũng
2. Ông Nguyễn Thế Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Hương Trà– Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: Ông Hồ Xuân Thắng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2018/HSST ngày 20/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/HSST- QĐ ngày 04/9/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Tý P, sinh năm: 1984 tại: Đăk Lăk; Nơi cư trú: thôn NT 1, xã M, huyện E, tỉnh ĐăkLăk; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lê Văn S, sinh năm 1962; Con bà: Trần Thị P, sinh năm: 1958; chồng bị cáo là Đặng Văn H, sinh năm: 1983; bị cáo có 03 con lớn nhất 13 tuổi, nhỏ nhất 6 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện nay, bị cáo đang được tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EaKar. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Ông Triệu Văn Đ, sinh năm: 1960. Người đại diện hợp pháp của ông Đ: bà Nông Thị V (vợ ông Đ). Cư trú tại: Thôn 9, xã Ea Đ, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk – Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Triệu Thị X, sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Thôn 9, xã Ea Đ, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk – Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Triệu Văn Đ1, sinh năm: 1960. Nơi cư trú: Thôn 9, xã Ea Đ, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk – Vắng mặt.
2. Anh Quách Trần P, sinh năm: 1998. Nơi cư trú: tổ dân phố 3, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk– Vắng mặt.
3. Ông Võ Đình N, sinh năm: 1971. Nơi cư trú:tổ dân phố 3, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 02/01/2018, Lê Thị Tý P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47N -6534 chở theo sau con trai là Đặng Như L (sinh năm 2009), lưu thông trên quốc lộ 26 hướng Khánh Hòa đi Đăk Lăk. Khi đi đến km 100 + 820m thuộc tổ dân phố 2A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk, P điều khiển xe mô tô chuyển hướng qua đường bên trái theo chiều đi và đã xảy ra va chạm với xe mô tô 47U1 – 05173 do ông Triệu Văn Đ điều khiển chở theo sau là ông Triệu Văn Đ1. Hậu quả ông Triệu Văn Đ bị thương, 02 phương tiện bị hư hỏng.
Qua khám nghiệm hiện trường xác định điểm đụng (vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu vuông góc xuống mặt đường) được xác định nằm trên mặt đường nhựa bên trái quốc lộ 26 hướng Khánh Hòa đi Đăk Lăk. Điểm đụng đo vào mép đường chuẩn là 5,45m, đo đến trục sau xe mô tô 47N5 -6534 là 1,97m, đo đến trục sau xe mô tô 47U1 – 05173 là 5,2m và đo đến đầu vết chà lốp là 0,65m.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 47N5 -6534 và 01 xe môtô biển số 47U1 – 05173. Các vật chứng này hiện nay, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản kết luận pháp y thương tích số 300/PY-TgT ngày 27/02/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đăk Lăk kết luận: Triệu Văn Đ bị chấn thương sọ não, liệt nửa người trái mức độ nặng tỉ lệ thương tích 73%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 28/2018/KL-HĐ992 ngày 03/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện EaKar kết luận: Chiếc xe môtô biển số 47U1 – 05173 sau tai nạn bị hư hỏng thiệt hại trị giá 690.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Thị Tý P đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng và đã được đại diện gia đình bị hại làm đơn bãi nại, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; bị cáo cũng đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, lưu hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 38/KSĐT-HS ngày 18/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố: Bị cáo Lê Thị Tý P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Tý P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố. Bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 02/01/2018, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47N5 - 6534 chở theo sau con trai là Đặng Như L, lưu thông trên quốc lộ 26 hướng Khánh Hòa đi Đăk Lăk. Khi đi đến km 100 + 820m thuộc tổ dân phố 2A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk, bị cáo điều khiển xe mô tô chuyển hướng không đúng quy định, vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ và đã xảy ra va chạm với xe mô tô 47U1 – 05173 do ông Triệu Văn Đ điều khiển chở theo sau là ông Triệu Văn Đ1, hậu quả ông Đ bị thương tích 73%.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Thị Tý P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Lê Thị Tý P từ 12 tháng đến 15tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EaKar trả 01 xe mô tô biển số 47N5 -6534 và 01 xe môtô biển số 47U1 – 05173 cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đề cập đến để giải quyết.
Tại phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện VKS, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện VKS và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phần lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Lê Thị Tý P tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trườngvà các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn thực tế khách quan. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 02/01/2018, Lê Thị Tý P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47N5 - 6534 chở theo sau con trai là Đặng Như L, lưu thông trên quốc lộ 26 hướng Khánh Hòa đi Đăk Lăk. Khi đi đến km 100 + 820m thuộc tổ dân phố 2A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk, P điều khiển xe mô tô chuyển hướng không đúng quy định, vi phạm điều 15 Luật giao thông đường bộ và đã xảy ra va chạm với xe mô tô 47U1 – 05173 do ông Triệu Văn Đ điều khiển đi ngược chiều,chở theo sau là ông Triệu Văn Đ, ông Đ điều khiển xe không có giấy phép lái xe và có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép, hậu quả ông Đ bị thương tích 73%.
Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh hành vi của bị cáo Lê Thị Tý P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 260 BLHS 2015.
Tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ………………
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương có thể 61% trở lên”.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽhành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn khi tham gia lưu thông trên đường bộ. Gây thiệt hại sức khỏe cho ông Triệu Văn Đ 73%. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương.
Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức, bị cáo đã được học luật giao thông đường bộ và đã được cấp giấy phép lái xe hạng A1 nên khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ, điều khiển phương tiện đi đúng làn đường, khi muốn chuyển hướng, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại. Mặc dù nhận thức được điều đó nhưng bị cáo khi tham gia giao thông đã điều khiển xe mô tô khi chuyển hướng không quan sát xe phía trước ngược chiểu nên đã gây tai nạn, hậu quả làm ông Triệu Văn Đ bị thương 73%, hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt phải xem xét đến nhân thân bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ để có hình phạttương xứng với hành vi bị cáo gây ra.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, sau khi gây tai nạn bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000 đồng và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại. Người bị hại ông Triệu Văn Đ cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe và lại có nồng độ cồn trong máu vượt quá quy định. Người bị hại và gia đình bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào các tình tiết nêu trên Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo P có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội cũng đảm bảo được tính giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Do vậy, HĐXX cần áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét cho bị cáo Lê Thị Tý P được hưởng án treo. Cần giao bị cáo về cho Uỷ ban nhân dân xã M, huyện E kết hợp với gia đình quản lý giáo dục cũng đủ điều kiện răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Do đó, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EaKar trả 01 xe mô tô biển số 47N5 - 6534 và 01 xe môtô biển số 47U1 – 05173 cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường, đồng thời người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại đã có đơn bãi nại không yêu cầu về phần bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập đến để giải quyết.
Về án phí:Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Thị Tý P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Lê Thị Tý P 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Thị Tý P cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện E, tỉnh Đắk Lắk kết hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Lê Thị Tý P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách bị cáo Lê Thị Tý P nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EaKar trả 01 xe mô tô biển số 47N5 - 6534 và 01 xe môtô biển số 47U1 – 05173 cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu thêm về phần trách nhiệm dân sự nên không đề cập đến để giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo Lê Thị Tý P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận -TA ND tỉnh Đắk Lắk. -Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk. -VKSND huyện EaKar. -Chi cục THADS huyện EaKar. -Công an huyện EaKar. -Bị cáo-đương sự. -Lưu hồ sơ, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Văn Ly |