- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2018/HS-ST Ngày: 14 - 5- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Hồi
Bà Lương Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lục Thị Hoàng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2018/TLST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2018/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc S, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1991 tại Lạng Sơn;
Trú tại: Số 311, khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn;
Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ văn hóa: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hoàng B. Vợ: Hoàng Thị H. Con: Có 01 sinh năm 2015. Tiền sự: Không. Tiền án: Không;
Bị bắt tạm giam ngày 19/01/2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Hoàng Doãn C (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/01/2018, tại khu vực trước cửa khách sạn B, đường L, phường V, thành phố L, tổ công tác Công an phường V, thành phố L làm nhiệm vụ bắt quả tang Phạm Ngọc S đang cất giấu trong túi áo khoác mà S đang mặc 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng, nghi là chất ma túy.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Phạm Ngọc S khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 02/01/2018, Phạm Ngọc S gặp một thanh niên tên L (không biết rõ lai lịch, địa chỉ của L) tại nhà hàng L, thị trấn Đ, huyện C nhờ L mua hộ ma túy để sử dụng, L đồng ý. Phạm Hồng Sơn đưa cho L 400.000 đồng, L nhận tiền và đi mua ma túy. Khoảng 30 phút sau L quay lại đưa cho Phạm Ngọc S 01 túi ni lon đựng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Phạm Ngọc S điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 12A- 047.47 hiệu HUYNDAI i10 chở khách từ thị trấn Đ, huyện C đến địa phận ngã tư M, phường V, thành phố L trả khách. Sau đó Phạm Ngọc S điều khiển xe ô tô đến gần cửa khách sạn B, đường L, phường V, thành phố L thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 05/KL-PC54 ngày 06/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: 01 gói nilon đựng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng thu giữ của Phạm Ngọc S gửi đi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,468 gam (đã trừ bì).
Tại bản Cáo trạng số 67/QĐ-VKSTPLS ngày 10 tháng 4 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc S khai nhận: Do Phạm Ngọc S sử dụng chất ma tuý và mắc nghiện từ khoảng năm 2015, nên thường đi mua ma túy để sử dụng. Khoảng 20 giờ ngày 02/01/2018, Phạm Ngọc S đã nhờ một thanh niên tên L mua 400.000 đồng ma túy đá và ma túy ngựa (viên nén). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Phạm Ngọc S điều khiển xe ô tô taxi chở khách từ thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến địa phận ngã tư M, phường V, thành phố L trả khách. Sau đó Phạm Ngọc S điều khiển xe ô tô đến gần cửa khách sạn B, đường L, phường V, thành phố L thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
+ Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S từ 18 đến 24 tháng tù.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo chỉ hành nghề lái xe thuê và không có tài sản để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong đựng chất ma túy Metaphetamine còn lại sau giám định.
- Về án phí: Bị cáo phải phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thành phố L; Viện kiểm sát nhân dân thành phố L và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Phạm Ngọc S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/01/2018, tại khu vực trước cửa khách sạn B, đường L, phường V, thành phố L tổ công tác Công an phường V, thành phố L làm nhiệm vụ bắt quả tang Phạm Ngọc S đang cất giấu trong túi áo khoác mà Phạm Ngọc S đang mặc 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng. Kết quả giám định đã kết luận: 01 gói nilon đựng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Phạm Ngọc S đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,468 gam (đã trừ bì). Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản cáo trạng số 67/QĐ-VKSTPLS ngày 10 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc S về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong xã hội. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện cao, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, tiêu tốn về kinh tế; ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm phục vụ lợi ích bất hợp pháp của bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật.
Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, yếu tố về nhân thân, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 07/02/2018 xác định: Bị cáo Phạm Ngọc S là lái xe thuê và không có tài sản để đảm bảo thi hành án, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy còn lại sau giám định; đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, vì vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người thanh niên tên L mua ma túy cho Phạm Ngọc S, do Phạm Ngọc S không biết rõ lai lịch, địa chỉ của L nên Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được để xử lý trong vụ án.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và các vấn đề khác đề nghị khi giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/01/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy hoàn lại sau giám định.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2018).
4. Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP Lạng Sơn; - Công an TP Lạng Sơn; - Chi cục THADS TP Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đình Sinh |