vanban.org

Bản án 57/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Phú Lộc V

Bà Phạm Phú Lộc V được ly hôn ông Cao Nguyên T. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Phạm Phú Lộc V, bị đơn Cao Nguyên T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Phú Lộc V
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2018/HNGĐ-ST
Ngày 22/6/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên phiên toà: Bà Nguyễn Thị H

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị H

Ông Nguyễn C

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hồng T – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh S – Kiểm sát viên.

Ngày 22/6/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2018/TLST-HNGĐ ngày 09/01/2018 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/5/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 60/2018/QĐST-HNGĐ ngày 06/6/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Phú Lộc V – sinh năm 1982

Địa chỉ: 180 T, phường H, thị xã N, tỉnh Khánh Hoà

Có mặt.

- Bị đơn: Ông Cao Nguyên T – sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ dân phố 9, phường H, thị xã N, tỉnh Khánh Hoà

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn bà Phạm Phú Lộc V trình bày: Bà và ông Cao Nguyên T kết hôn tại UBND phường N được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 195 ngày 07/11/2012. Quá trình chung sống bà và ông T thường mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm về công việc và cuộc sống. Bà và ông T không còn sống chung từ năm 2016 đến nay. Bà không còn tình cảm với ông T nữa nên yêu cầu được ly hôn ông T.

Về con chung: Ông bà không có con chung.

Tài sản chung: Bà không yêu cầu giải quyết.

Ông Cao Nguyên T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của bà Phạm Phú Lộc V tại phiên tòa thể hiện: Bà và ông Cao Nguyên T kết hôn tại UBND phường H được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 195 ngày 07/11/2012. Quá trình chung sống bà và ông T thường mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm về công việc và cuộc sống. Bà và ông T đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Tòa án đã nhiều lần triệu tập để hòa giải và xét xử nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông T và bà V đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V. Về con chung: Không có. Tài sản chung: Bà không yêu cầu giải quyết. Bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Toà án nhận định:

1. Về tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Cao Nguyên T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung:

Tại phiên tòa bà Phạm Phú Lộc V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Phú Lộc V và ông Cao Nguyên T kết hôn tại UBND phường H được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 195 ngày 07/11/2012. Hội đồng xét xử công nhận đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà V yêu cầu ly hôn vì cho rằng quá trình chung sống bà và ông T thường mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm về công việc và cuộc sống. Bà và ông T đã không còn sống chung từ năm 2016 đến nay. Toà án đã triệu tập ông T để hòa giải và mở phiên toà xét xử nhưng ông T vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân giữa ông và bà V.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Phạm Phú Lộc V và ông Cao Nguyên T đã không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn giữa ông T và bà V đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V.

- Về con chung: Ông bà không có con chung.

- Về tài sản chung: Bà V không yêu cầu giải quyết. Tách yêu cầu chia tài sản chung của ông T thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

- Về án phí: Bà Phạm Phú Lộc V phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự,

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH2014 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Phú Lộc V

1. Bà Phạm Phú Lộc V được ly hôn ông Cao Nguyên T.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung: Bà V không yêu cầu giải quyết. Tách yêu cầu chia tài sản chung của ông T thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Bà Phạm Phú Lộc V phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0003559 ngày 08/01/2018 của chi cục Thi hành án dân sự thị xã N; bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ