- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị VA ly hôn anh Vũ Đình T"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 57/2018/HNGĐ-ST Ngày: 29/08/2018 |
HUYỆN THÁI THỤY Độc lập – Tự do – hạnh phúc V/v Chị VA ly hôn anh T
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ghi biên bản phiên tòa - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy: Không Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 164/2018/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2018 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2018/QĐST- HNGĐ ngày 14/8/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2018/QĐST-NHGĐ ngày 23/8/2018 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Trần Thị VA, sinh năm 1996 HKTT : thôn PM, xã TD, huyện TT, Thái Bình Hiện cư trú tại: làng TB, xã LL, huyện AD, TP. Hải Phòng. Bị đơn: Anh Vũ Đình T, sinh năm 1990 Địa chỉ: thôn PM, xã TD, huyện TT, Thái Bình (Chị VA xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các đơn gửi Tòa án nguyên đơn chị Trần Thị VA trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Đình T sinh năm 1990 ở thôn PM, xã TD tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào ngày 4/9/2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TD. Vợ chồng chung sống một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng không thể bàn bạc được bất cứ việc gì chung, thường xuyên cãi chửi nhau dẫn đến việc ly thân. Hai bên gia đình đã khuyên bảo, hòa giải cho anh chị nhưng đều không có kết quả. Nay chị xác định
không thể chung sống lâu dài với anh T được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Toàn. Về việc nuôi con chung: Chị và anh T có một con chung là Vũ Đình GH, sinh ngày 19/5/2013. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay con chung ở với anh Toàn và ông bà nội nên chị đề nghị tiếp tục giao con chung cho anh Vũ Đình T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị nhất trí việc anh T không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con. Về việc chia tài sản chung: Chị và anh T không nợ ai, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc phân chia tài sản. * Tại bản tự khai ngày 11/7/2018 anh Vũ Đình T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Thời gian kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn giữa anh và chị Trần Thị VA đúng như lời trình bày của chị VA. Anh xác định anh, chị không để đoàn tụ được nên nhất trí ly hôn. Về việc nuôi con chung: Anh và chị Trần Thị VA có một con chung là Vũ Đình GH, sinh ngày 19/5/2013, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh không yêu cầu chị Trần Thị VA cấp dưỡng. Về việc chia tài sản chung: Anh và chị Trần Thị VA không nợ ai, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc phân chia tài sản. Sau khi đến Tòa án tự khai ngày 11/7/2018, anh Toàn không đến hòa giải nên vụ án phải đưa ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị VA và anh Vũ Đình T kết hôn hợp pháp. Do tính tình không hợp nên cuộc sống chung phát sinh mâu thuẫn dẫn đến anh chị ly thân. Hiện nay tình trạng vợ chồng mỗi người một nơi, ai biết bổn phận người đó không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy mục đích quan hệ hôn nhân là xây dựng hạnh phúc gia đình giữa chị Trần Thị VA và anh Vũ Đình T không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Trần Thị VA ly hôn anh Vũ Đình T [2]. Về việc nuôi dưỡng con chung: Chị Trần Thị VA và anh Vũ Đình T có một con chung là Vũ Đình GH, sinh ngày 19/5/2013. Anh chị đều có ý kiến thống nhất giao con chung cho anh Vũ Đình T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Toàn không yêu cầu chị Trần Thị VA cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu của anh chị là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
. Về phần tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [4]. Về án phí: Chị Trần Thị VA phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên, QuyÕt ®Þnh: Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí: 1. VÒ h«n nh©n: Xử cho chị Trần Thị VA ly hôn anh Vũ Đình T. 2.Về nuôi con chung Giao con chung Vũ Đình GH, sinh ngày 19/5/2013 cho anh Vũ Đình T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận việc anh Vũ Đình T không yêu cầu chị Trần Thị VA cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Trần Thị VA có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con chung được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu. 3. VÒ tµi s¶n chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 4. VÒ ¸n phÝ: Chị Trần Thị VA phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số 0001481 ngày 02/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, chị Trần Thị VA đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. 5. QuyÒn kh¸ng c¸o: Chị Trần Thị VA và anh Vũ Đình T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận thống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã Thụy Dũng; - VKSND huyện Thái Thuỵ; - Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy - Lưu hồ sơ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hương Lan |