- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Lê Thị T và bị đơn anh Nguyễn Văn T được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2018/HNGĐ-ST Ngày: 29/6/2018 V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quy; Bà Trần Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hội - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Đ, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 126/2018/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2018 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị LÊ THỊ T - sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ 5 khu phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Đ.
- Bị đơn: Anh NGUYỄN VĂN T - sinh năm 1982.
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Đ.
(Chị T có mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI D VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 01/3/2018, bản tự khai ngày 01/3/2018, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
Chị và anh T đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Đ và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 30/8/2005.
Sau khi kết hôn, cuộc sống của vợ chồng vui vẻ, hạnh phúc. Cho đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên gây gổ, cãi nhau, bất đồng mọi quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng gay gắt và trở nên trầm trọng. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên nhủ, xây dựng hạnh phúc nhưng vợ chồng chị vẫn không thể hòa thuận được. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, chị không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn mối quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn Văn T.
Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Minh N – sinh ngày 21/4/2008 và Nguyễn Ngọc D – sinh ngày 23/9/2014. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý số 126/2018/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2018 cho anh Nguyễn Văn T theo quy định của pháp luật nhưng anh T không có văn bản trả lời. Tòa án đã triệu tập anh T đến Tòa án để làm việc, để tham gia phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không chấp hành triệu tập của Tòa án.
- Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án và giao các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T. Về con chung: đề nghị giao 02 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T. Tài sản do các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí hôn nhân nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Nguyễn Văn T cư trú tại khu phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Đ nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Q có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.
Về tư cách đương sự: Chị Lê Thị T khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T nên chị T là nguyên đơn, anh T là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn; hôn nhân không vi phạm điều cấm của pháp luật nên được công nhận hợp pháp.
Trong cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh T đã xảy ra những bất đồng, mâu thuẫn nhưng cả hai người không đưa ra giải pháp để hàn gắn hạnh phúc gia đình mà tự chấm dứt cuộc sống chung. Tại Điều của 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Tuy nhiên, kể từ năm 2015 đến nay, chị T và anh T không còn sống chung với nhau, không quan tâm, chăm sóc, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng mà bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống. Qua xác minh tại địa phương (Bút lục 25, 26) thể hiện quá trình sống chung vợ chồng chị T và anh T thường cải vả, xuyên xô xát nhau và đã sống ly thân nhau. Tòa án đã nhiều lần mời chị T và anh T đến để hòa giải, hàn gắn tình cảm cho hai người nhưng anh T không chấp hành; điều đó thể hiện anh T không còn mong muốn hàn gắn đoàn tụ. Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T đã trầm trọng; cuộc sống chung không còn; mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn với anh T là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên nên được Tòa án chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Con chung giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn T là cháu Nguyễn Minh N – sinh ngày 21/4/2008 và cháu Nguyễn Ngọc D – sinh ngày 23/9/2014; cả hai cháu đều đang sống chung với chị T.
Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện chị T là người có đạo đức, nhân cách tốt; Có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Từ khi vợ chồng chị T mâu thuẫn phải sống ly thân thì chị T chăm sóc con chu đáo… Những sự việc này đều có xác nhận của khu phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Đ - nơi chị T cư trú, nên có cơ sở tin cậy rằng nếu tiếp tục giao các con chung cho chị T thì các cháu N, cháu D sẽ tiếp tục được chăm sóc tốt, phát triển bình thường. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao cháu N, cháu D cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Anh T có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Vì quyền lợi của con chung anh T, chị T có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nôi con chung: Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T.
Về tài sản chung, nợ chung: Do chị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Lê Thị T và bị đơn anh Nguyễn Văn T được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh N – sinh ngày 21/4/2008 và cháu Nguyễn Ngọc D – sinh ngày 23/9/2014 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn T do chị Lê Thị T không yêu cầu.
Anh T có quyền thăm chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, anh T và chị T có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng. Chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 004786 ngày 21/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Q được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Lê Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - VKSND huyện Q; - Chi cục THADS huyện Q; - Các đương sự; - UBND thị trấn Q; - Lưu. | Lê Xuân Hòa |