vanban.org

Bản án 57/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2017/HSST
Ngày: 26/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chu Nhương và bà Trần Thị Ngọc.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hân - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lý nhân, tỉnh Hà nam.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lý nhân, tỉnh Hà nam tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; nơi cư trú: Xóm 17, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; con ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị D; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2017 cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 ; nơi cư trú: Xóm 15, xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 03/7/2017, Nguyễn Văn Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T nhờ mua hộ ma tuý về sử dụng, Nguyễn Văn T đồng ý và hẹn gặp nhau ở khu vực Cầu Đen, xã Chính Lý, huyện Lý Nhân. Sau đó Nguyễn Văn T điều khiển xe môtô Dream biển kiểm soát 90H5-4335 đến điểm hẹn chở Đ đi mua ma túy. Khi đến Đập Trung xã Văn Lý, huyện Lý Nhân, T dừng xe rồi bảo Đ đưa tiền và đợi T. Đ đưa cho T 200.000 đồng, T cầm tiền đi đến xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục mua được 03 gói ma túy của một người phụ nữ tên là Hoa với giá 200.000 đồng sau đó quay lại chở Đ đi về xã Chính Lý để giao ma túy cho Đ, T xác định sẽ giao cho Đ 02 gói ma túy, còn 01 gói giữ lại để sử dụng, coi như công đi mua hộ. Trên đường về đến khu vực đường bê tông liên thôn thuộc xóm 3, Quan Trung, xã Văn Lý, huyện Lý Nhân thì bị Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an xã Văn Lý bắt quả tang.

Khi bắt, Công an thu giữ trong tay trái T 03 gói ma túy được gói bằng giấy vở học sinh, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong ký hiệu QT01). Ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại Nokia và 01 xe môtô Dream Biển kiểm soát 90H5-4335.

Tại bản kết luận giám định Số: 128/PC54-MT ngày 06/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng bên trong 03 (ba) gói giấy trong mẫu ký hiệu QT01 gửi giám định có tổng trọng lượng là 0,024 g (Không phẩy không trăm hai mươi bốn gam), có Hêrôin.

Công an huyện Lý Nhân đã trả lại chiếc xe môtô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 90H5-4335 cho anh Nguyễn Văn D (là người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn H - chủ sở hữu).

Công an huyện Lý Nhân đã xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Nguyễn Văn Đ.

Tại bản cáo trạng số 52/KSĐT-MT ngày 15/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý nhân đã truy tố và nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với vật chứng thu được. Do đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 03/7/2017, Nguyễn Văn Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T nhờ mua hộ ma tuý về sử dụng. Nguyễn Văn T điều khiển xe môtô Dream biển kiểm soát 90H5-4335 đến điểm hẹn tại Cầu Đen, xã Chính Lý, huyện Lý Nhân chở Đ đi mua ma túy. Đ đưa cho T 200.000 đồng, T cầm tiền đi đến xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục mua được 03 gói ma túy của một người phụ nữ tên là Hoa với giá 200.000 đồng sau đó quay lại chở Đ đi về xã Chính Lý để giao ma túy cho Đ, T xác định sẽ giao cho Đ 02 gói ma túy, còn 01 gói giữ lại để sử dụng, coi như công đi mua hộ. Trên đường về đến khu vực đường bê tông liên thôn thuộc xóm 3, Quan Trung, xã Văn Lý, huyện Lý Nhân thì bị Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an xã Văn Lý bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Vì vậy phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã T khẩn khai báo; bố của bị cáo được tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang, ông nội bị cáo tham gia cách mạng bị địch bắt tù đầy, được tặng kỷ niệm chương - Là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phạm tội nghiêm trọng; đồng thời căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm thu lời, vì vậy phải phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại Nokia thu giữ của bị cáo T là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Vật chứng hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Chiếc xe môtô Dream biển kiểm soát 90H5-4335 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn H, ông H đã chết, anh D là con trai ông H quản lý, sử dụng, anh D không có lỗi trong việc bị cáo Nguyễn Văn T dùng làm phương tiện phạm tội, Công an huyện Lý Nhân đã trả lại cho anh D là đúng quy định của pháp luật. Anh D không có yêu cầu đề nghị gì nên không phải giải quyết.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 - Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam giữ 03/7/2017.

2. Về hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng

Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Nokia thu của bị cáo Nguyễn Văn T.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT01 cùng toàn bộ bao gói mẫu vật.

4. Về án phí

Áp dụng khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/1016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn trên, đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ