- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Không công nhận chị Ngô Thị Kim P và anh Lê Kim T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK TỈNH KHÁNH HÒA ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2017/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 8 năm 2017 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hùng Cường
Ông Nguyễn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện DK - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 135/2017/TLST-HNGĐ ngày 24/4/2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2017/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2017 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Kim P - sinh năm 1972 Nơi ĐKHKTT: Tổ 27 - thôn TL - xã DL - huyện DK - Khánh Hòa Chỗ ở: Thôn K - xã SC - huyện CL - Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Anh Lê Kim T - sinh năm 1967 Địa chỉ: Tổ 1 - thôn TL - xã DL - huyện DK - Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-Trong đơn khởi kiện ngày 10/4/2017, bản tự khai ngày 05/5/2017, nguyên đơn bà Ngô Thị Kim P trình bày: bà và ông Lê Kim T yêu thương nhau, tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 1991, không có đăng ký kết hôn. Giai đoạn đầu hạnh phúc, đến năm 2012 giữa vợ chồng bà thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, không có trách nhiệm với gia đình, dùng những lời lẽ xúc phạm đến bà. Nhiều lần bà tạo cơ hội cho ông T, nhưng ông T vẫn không thay đổi bản tính. Tình cảm giữa vợ chồng đã rạn nứt trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bà và ông T đã không còn chung sống với nhau từ tháng 4/2016 cho đến nay. Hiện tại, bà không còn tình cảm, yêu thương và chăm sóc đối với ông T. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Kim T.
Về con chung: có 02 con chung là Lê A - sinh năm 1992 (đã chết) và Lê Thị N - sinh năm 1994, đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: bà xác định bà và ông T không có.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2017, bị đơn ông Lê Kim T trình bày: ông và bà Ngô Thị Kim P chung sống với nhau từ năm 1991, không đăng ký kết hôn như bà P trình bày. Giai đoạn đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2012 cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông thường xuyên nhậu nhẹt, không có sự đồng cảm, chia sẻ, quan tâm đến gia đình, dẫn đến vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Tình cảm giữa ông và bà P đã rạn nứt trầm trọng, nên cả hai không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2014 cho đến nay. Bà P yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý vì còn thương bà P.
Về con chung: 02 con chung là Lê A - sinh năm 1992 (đã chết) và Lê Thị N - sinh năm 1994, đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: ông xác định ông và bà P không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông T; về con chung: đã trưởng thành nên không yêu cầu gì; về tài sản chung và nợ chung: không có. Bị đơn ông T vắng mặt tại phiên tòa lần II.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Kim T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Kim T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Kim P và anh Lê Kim T sống chung với nhau vào năm 1991 không có đăng ký kết hôn, hai người đã có 02 con chung. Quá trình chung sống, theo chị P và anh T đều xác định đã xảy ra mâu thuẫn kéo dài không thể khắc phục, nguyên nhân là do anh T thường xuyên nhậu nhẹt, không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ và dùng những lời lẽ xúc phạm đến chị P. Anh T cho rằng vẫn còn yêu thương chị P, nên không đồng ý ly hôn với chị P. Tại phiên tòa, chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử, xét chị P và anh T đều thừa nhận vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, dùng những lời lẽ xúc phạm lẫn nhau, không có sự đồng cảm, tôn trọng nhau trong cuộc sống, gia đình không có hạnh phúc và đã không còn chung sống với nhau từ tháng 4/2016 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập anh T tham gia phiên họp, hòa giải và phiên tòa, nhưng anh T đều vắng mặt. Điều này chứng tỏ anh T đã không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị P. Mâu thuẫn của chị P và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị P và anh T chung sống với nhau từ năm 1991, không có đăng ký kết hôn, nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vì vậy, cần tuyên bố không công nhận chị Ngô Thị Kim P và anh Lê Kim T là vợ chồng.
- Về con chung: Chị P và anh T có 01 con chung là Lê Thị Ngọc Tuyền - sinh năm 1994, đã trưởng thành và không có yêu cầu gì, nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh T đều xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị P phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
1. Tuyên bố: Không công nhận chị Ngô Thị Kim P và anh Lê Kim T là vợ chồng.
2. Về án phí: Chị Ngô Thị Kim P nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), mà chị P đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0018045 ngày 24/4/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện DK - Khánh Hòa. Chị P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
3. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện DK; - Chi cục thi hành án dân sự huyện DK; - Các đương sự; - UBND xã Diên Lạc (được biết); - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Kim Vinh |