- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P xử cho chị và anh Nguyễn Xuân T được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TÂY NINH Bản án số: 57/2017/HNGĐ-ST Ngày: 25/8/ 2017. V/v Xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Linh
2. Bà Hoàng Thị Thu Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:
Ông Lê Xuân Hồng Vinh.- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2017 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1984; địa chỉ cư trú: Số 17/28, khu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: 81/2 đường Nguyễn Văn Q, phường T, Quận X, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Số 17/28, khu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 3 năm 2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:
Chị và anh T tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Anh chị sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: do anh T ham mê cờ bạc không lo lắng cho gia đình, anh T có quan hệ tình cảm với người khác bên ngoài, từ đó vợ chồng thường xuyên cải nhau, anh chị sống ly thân từ tháng 12 năm 2014 ÂL cho đến nay. Chị xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 người Nguyễn Phước T sinh ngày 22/10/2013. Hiện con đang sống chung với chị P. Chị P yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết; Nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Xuân T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần không đến tòa nên không có lời trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị P đối với anh Nguyễn Xuân T, con chung giao chị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự , Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh T chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét về mâu thuẫn: Thì thấy rằng chị P và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh T không lo làm ăn cờ bạc, từ đó anh chị gây gỗ thường xuyên. Qua thu thập chứng cứ thì thấy rằng anh T không có nghề nghiêp ổn định, thường xuyên cờ bạc, phù hợp với lời trình bày của chị P, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị P xử cho chị và anh T được ly hôn.
Về con chung: Có một người Nguyễn Phước T, sinh ngày 22/10/2013 hiện sống chung với chị P, nghĩ nên giao con cho chị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị P không yêu cầu.
Không ai được ngăn cản anh T quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu giải quyết, nợ chung không nợ ai nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị P; giao con cho chị P trông nom, chăm sóc. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết; nợ chung không có nên không đặt ra đặt ra giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị này phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P xử cho chị và anh Nguyễn Xuân T được ly hôn.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Phước T, sinh ngày 22/10/2013. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị P không yêu cầu.
Không ai được ngăn cản anh T quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nợ chung không nợ ai.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm; nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0017509 ngày 01 tháng 3 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T; Chị P đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị P có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với anh T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tây Ninh; -THADS huyện T; -VKSND huyện T -Các đương sự; - UBND thị trấn CT; -Lưu HS,TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Minh Bình |