- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Thùy Linh - Nguyễn Hữu Kiên - Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Thùy Q xin ly hôn anh Nguyễn Hữu E.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 568/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 12 - 2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Hòa;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Triển;
2. Ông Nguyễn Minh Tú;
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 526/2023/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/12/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Thùy Q, sinh năm 1999;
Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố R, phường T, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu E, sinh năm 1995;
Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố R, phường T, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Đoàn Thị Thùy Q trình bày
- Về tình cảm: Chị Đoàn Thị Thùy Q và anh Nguyễn Hữu E kết hôn có đăng ký tại trụ sở UBND phường T, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội ngày 21/3/2018. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh E chơi bời bên ngoài, không quan tâm đến gia đình, vợ con nên hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh E không phụ giúp kinh tế gia đình, bỏ mặc để chị tự lo; anh E còn thường xuyên chơi bời, không về nhà, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng căng thẳng, có những lời lẽ xúc phạm nhau. Chị và anh E sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Tháng 8/2023, anh E bị Công an huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội bắt về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an Thành phố Hà Nội. Chị xác định không còn tình cảm với anh E, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh E.
- Về con chung: Chị và anh E có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Minh Y, sinh ngày 04/4/2019. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cháu Y, không yêu cầu anh E cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm tự do, thu nhập 08 triệu đồng/tháng, ổn định.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, bị đơn là anh Nguyễn Hữu E trình bày
- Về tình cảm: Anh Nguyễn Hữu E và chị Đoàn Thị Thùy Q xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND phường T, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội ngày 21/3/2018. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau. Tháng 8/2023, anh bị Công an huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội bắt về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, hiện anh đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. Vợ chồng anh ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay. Chị Q xin ly hôn, anh nhất trí ly hôn.
- Về con chung: Anh và chị Q có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Minh Y, sinh ngày 04/4/2019. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị Q nuôi con, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Chị Đoàn Thị Thùy Q giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh E, xin được nuôi con chung, không yêu cầu anh E cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Nguyễn Hữu E có đơn xin xét xử vắng mặt, do anh đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng
- Về thẩm quyền: Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Hữu E đăng ký nhân khẩu thường trú tại phường T, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm theo quy định tại Điều 28, khoản 1 điều 35 ; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc xét xử vắng mặt Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu E là bị đơn, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh E.
- Về người tiến hành tố tụng tại phiên tòa: Trong vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, vụ án không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy phiên tòa không có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Về nội dung
Về tình cảm: Chị Đoàn Thị Thùy Q và anh Nguyễn Hữu E kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND phường T, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội ngày 21/3/2018. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Anh chị chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau. Theo chị Q nguyên nhân mâu thuẫn là do anh E chơi bời, không quan tâm, chăm lo, phụ giúp kinh tế gia đình. Anh E cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Chị Q và anh E đã sống ly thân. Chị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn anh E. Anh E đồng ý ly hôn chị Q. Xét thấy, anh E và chị Q là vợ chồng nhưng tình cảm vợ chồng không còn, không cùng nhau hướng tới xây dựng cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Q xin ly hôn anh E. Anh E đồng ý. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Q xin ly hôn anh E.
Về con chung: Chị Đoàn Thị Thùy Q và anh Nguyễn Hữu E có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Minh Y, sinh ngày 04/4/2019. Anh chị thống nhất, ly hôn giao con chung là cháu Y cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh E không phải cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh chị.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đoàn Thị Thùy Q và anh Nguyễn Hữu E đều xác định không có.
Về án phí: Chị Đoàn Thị Thùy Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Thùy Q xin ly hôn anh Nguyễn Hữu E.
2. Chị Đoàn Thị Thùy Q được ly hôn anh Nguyễn Hữu E.
3. Về con chung: Chị Đoàn Thị Thùy Q và anh Nguyễn Hữu E có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Minh Y, sinh ngày 04/4/2019. Ghi nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự: Giao cháu Nguyễn Hữu Minh Y cho chị Đoàn Thị Thùy Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đoàn Thị Thùy Q không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Hữu E cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Anh Nguyễn Hữu E được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đoàn Thị Thùy Q và anh Nguyễn Hữu E đều xác định không có.
5. Về án phí: Chị Đoàn Thị Thùy Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0044294 ngày 20/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Chị Q đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo
Chị Đoàn Thị Thùy Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Hữu E vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND, VKSND TP Hà Nội; - VKSND quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm; - UBND phường T, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội; - Lưu hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hòa |