- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 567/2022/HSST Ngày 22- 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cần
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
2. Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 591/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 510/2022/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn Ch; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1998, tại: Thái Nguyên
Nơi ĐKHKTT: Bản P, Xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.
Chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã NH, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Đảng, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn Ph, sinh năm 1971 Con bà: Tòng Thị Th, sinh năm 1967; Vợ là Lường Thị Ng, sinh năm 2002 và có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2022, tạm giam từ ngày 28/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Tiến M, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu X, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm S, xã HT, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 19/9/2022, tổ công tác Công an phường TD, thành phố Thái Nguyên tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 08, phường TD, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện một nam thanh niên đang điều khiển chiếc xe mô tô BKS: 16K2-4078 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra đối tượng nam giới khai tên là Quàng Văn Ch, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT: Bản P, Xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, đồng thời tự lấy từ túi quần bên trái đang mặc trên người ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, Ch khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói giấy bạc mầu trắng thu giữ của Ch trong phong bì ký hiệu A1 và đưa Ch cùng vật chứng thu giữ về cơ quan công an để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 21 giờ 40 phút, ngày 19/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Quàng Văn Ch xác định có khối lượng là 0,451 gam; rồi niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để tiến hành giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1484/KL-KTHS ngày 28/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận: “Mẫu vật gửi giám định trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,451 gam”.
Tại cơ quan điều tra Quàng Văn Ch đã khai nhận: Do bản thân Ch là đối tượng nghiện ma túy, nên khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 19/9/2022, Ch điều khiển xe mô tô BKS: 16K2-4078 đi từ chỗ ở của Ch thuộc xóm Ngòi Chẹo, xã Nam Hòa, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực đường tròn Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây Ch gặp một người đàn ông không quen biết và mua của người này 01 gói ma túy, loại Heroine với số tiền là 200.000đ. Sau khi mua xong, Ch cất gói ma túy trong túi quần bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe về nhà để sử dụng. Khi Ch đi đến khu vực ngã tư, đèn xanh- đỏ, thuộc tổ 8, phường TD thì bị tổ công tác của Công an phường TD, thành phố Thái Nguyên tiến hành kiểm tra phát hiện thu giữ của Ch 01 gói ma túy và 01 xe mô tô BKS: 16K2-4078.
Do có hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số 597/CT-VKSTPTN, ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Quàng Văn Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 597/CT-VKSTPTN, ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2022; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong còn lại 0,431 gam ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A3 chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu.
- Trả lại cho anh Lê Tiến M 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu sơn xanh, BKS: 16K2-4078, xe đã qua sử dụng.
Ngoài ra còn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Tiến M trình bày: Trước đây anh M có mua lại của một người không quen biết ở Hải Phòng chiếc xe mô tô BKS: 16K2-4078, nhưng chưa làm thủ tục đăng ký quyền sử hữu theo quy định của pháp luật. Khi anh làm việc tại khu vực công trường TNG Nam Hòa, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì có mang theo chiếc xe mô tô trên để sử dụng, thỉnh thoảng có cho công nhân đang thi công tại công trường mượn để đi lại. Khi được cơ quan Công an thông báo về việc bắt giữ Quàng Văn Ch về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ chiếc xe mô tô trên thì anh M mới biết được Ch đã sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc đi mua ma túy sử dụng. Nay anh đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho anh chiếc xe mô tô trên, để anh quản lý, sử dụng.
Người chứng kiến ông Nguyễn Đình C trình bày: Khoảng 18 giờ 00, ngày 19/9/2022 ông C có việc đi ngang qua khu vực ngã tư gần trụ sở Công an phường TD, thì được Tổ công tác của Công an phường TD mời chứng kiến việc kiểm tra 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra người này khai tên là Quàng Văn Ch, sinh năm 1998, Nơi ĐKHKTT: Bản P, Xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên và tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc mầu trắng, bên trong chứa chất bột mầu trắng, Ch khai nhận đó là ma túy loại Heroine, do Ch mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm pháp quả tang, thu giữ của Ch 01 gói ma túy và 01 chiếc xe mô tô rồi đưa Ch về cơ quan công an giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Quàng Văn Ch tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 19/9/2022, tại khu tổ 08, phường TD, thành phố Thái Nguyên, Quàng Văn Ch đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,451 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo Ch khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường tròn Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên với số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Hành vi tàng trữ trái phép 0,451gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân do Quàng Văn Ch thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Bản cáo trạng số 597/VKSTPTN ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 249 của BLHS quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c)Heroine, ….. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 9/12, sau khi nghỉ học ở nhà, lao động tự do; Bản thân chưa có tiền án, tiền sự.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình – Do đó bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Mức án mà đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7]. Việc xử lý hành vi và đối tượng liên quan đến vụ án:
Liên quan đến vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho Quàng Văn Ch, tuy nhiên do Ch không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với Lê Tiến M đã có hành vi cho Quàng Văn Ch mượn chiếc xe mô tô BKS: 16K2-4078, sau đó Ch sử dụng vào việc đi mua ma túy để sử dụng. Quá trình điều tra xác định anh M không biết Ch sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc đi mua ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã không xử lý đối với hành vi của Lê Tiến M là phù hợp.
[8]. Về vật chứng vụ án:
- Đối với vật chứng là 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong còn lại 0,431 gam ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A3 chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu - Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu sơn: xanh, biển kiểm soát: 16K2-4078 – Xác định là tài sản của anh Lê Tiến M đang chiếm hữu, sử dụng hợp pháp, anh M không biết và không có lỗi trong việc Ch sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội, nên cần xử lý trả lại cho anh Lê Tiến M.
[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án, nhưng là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn Ch 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong còn lại 0,431 gam ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu gửi giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A3 chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu.
- Trả lại cho anh Lê Tiến M 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu sơn: Xanh, biển kiểm soát: 16K2-4078, xe đã qua sử dụng.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 144 ngày 28/11/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn Ch.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnhThái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên; - UBND xã QC, huyện T; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Cần |