- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Trần Thị Mót"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V.
- Căn cứ chính? Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ H Bản án số: 567/2019/DS-ST Ngày: 29/11/2019 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T-THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Nhung
2. Bà Trần Quang Cảnh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân quận T, thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2019/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2019/QĐST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V.
Địa chỉ: Tầng 1-7 tòa nhà Thủ Đô, số 72 phố Trần Hưng Đ, phường Trần Hưng Đ, quận H, thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990
Văn bản ủy quyền số 136/UQ-VH.18 ngày 29/8/2018
Người được ủy quyền lại: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1994
Văn bản ủy quyền số 747/UQTA-VH.19 ngày 14/01/2019
Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh ngày 08/11/1969
Địa chỉ: 28/2 Huỳnh Văn C, phường P, quận T, Thành phố H.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn do bà Phạm Thị H là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 18/01/2016 bà Trần Thị M có ký Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số 20160119-500000-6043 (sau đây gọi tắt là hợp đồng) với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V (sau đây gọi tắt là ngân hàng) với nội dung thỏa thuận: Vay số tiền 42.200.000 đồng; Lãi suất: 2.92%/tháng; Thời hạn trả chậm liên tiếp 24 tháng; 23 tháng đầu mỗi tháng trả 2.470.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.453.000 đồng. Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân; Phương thức thanh toán: vào ngày 20 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 20/02/2016.
Thực hiện hợp đồng, bà M đã nhận đủ số tiền vay và đã thanh toán cho ngân hàng Thịnh vượng gốc và lãi số tiền là 24.700.000 đồng (trong đó tiền gốc 14.151.253 đồng, tiền lãi 10.548.747 đồng). Từ ngày 25/11/2016 bà M không thanh toán thêm bất cứ khoản nào. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị M phải thanh toán số nợ còn lại theo hợp đồng tín dụng trên là 34.563.000 (Ba mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn) đồng; trong đó nợ gốc là 28.048.747 đồng; nợ lãi là 6.514.253 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Nếu bà Mót không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì bà Mót phải chịu lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định Bộ luật dân sự.
Tòa án nhân dân quận T đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn do bà Phạm Thị H là người đại diện theo ủy quyền vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Trần Thị M phải thanh toán số nợ còn lại theo hợp đồng là 34.563.000 (Ba mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn) đồng; trong đó nợ gốc là 28.048.747 đồng; nợ lãi là 6.514.253 đồng.
Bị đơn là bà Trần Thị M vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
1.Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
2. Về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ do các đương sự xuất trình và do Tòa án thu thập được, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét, đơn khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng yêu cầu bị đơn bà Trần Thị M phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ, bà M có hộ khẩu thường trú tại quận T, do đó căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T theo theo thủ tục sơ thẩm.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn bà Trần Thị M đã được Tòa án tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà Mót vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng; Do đo, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Mót.
Về yêu cầu của đương sự:
Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, giao nhận văn bản tố tụng đối với bà Trần Thị M là bị đơn trong vụ án theo quy định tại các điều 170, 171, 172, 173 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bà Mót vắng mặt mà không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; đồng thời bà Mót không có văn bản trình bày ý kiến khi nhận được thông báo thụ lý vụ án được quy định tại Điều 199 và thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự thì đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Căn cứ hợp đồng ngày 18/01/2016 bà M ký với ngân hàng thì sự thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 386 và Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2015.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà M là bên vi phạm hợp đồng không trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn theo thỏa thuận nên ngân hàng yêu cầu bà Mót thanh toán số tiền nợ còn lại là 34.563.000 (Ba mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn)đồn; trong đó nợ gốc là 28.048.747 đồng; nợ lãi là 6.514.253 đồng, thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở, đúng pháp luật phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Ngoài ra, nguyên đơn yêu cầu bà Mót phải chịu lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định Bộ luật dân sự nếu bà M không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của ngân hàng được Tòa án chấp nhận nên bà Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ngân hàng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 177, Điều 179, khoản 3 Điều 228, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 385, Điều 386 và Điều 388, Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V.
Buộc bà Trần Thị M thanh toán nợ theo Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20160119-500000-6043 ngày 18/01/2016 cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V, số tiền là 34.563.000 (Ba mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn) đồng; trong đó nợ gốc là 28.048.747 (Hai mươi tám triệu không trăm bốn mươi tám ngàn không trăm bốn mươi tám) đồng; nợ lãi là 6.514.253 (Sáu triệu năm trăm mười bốn ngàn hai trăm năm mươi ba) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Trần Thị M phải chịu lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định Bộ luật dân sự nếu bà M không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V.
Thời hạn thanh toán: Ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.728.150 (Một triệu bảy trăm hai mươi tám ngàn một trăm năm mươi) đồng.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 864.075 (Tám trăm sáu mươi bốn ngàn không bảy năm) đồng theo Biên lai thu số 0012561 ngày 04/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự, công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V; bà Trần Thị M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho đương sự hoặc được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân TP. H; - Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP. H; - Chi cục Thi hành án dân sự quận T, TP. H; - Lưu VP, hồ sơ (Tiến). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hòa |