- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A, tuyên cho bà Nguyễn Thị A được ly hôn với ông Ngô Văn V.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 566/2021/HNGĐ-ST Ngày: 28-5-2021 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Xuân Mai
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành V, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm V khai vụ án thụ lý số 899/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 285/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1976 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Nhà không số, tổ 16, Khu phố 3B, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Ngô Văn V, sinh năm 1976 ( Vắng mặt);
Địa chỉ: Nhà không số, tổ 16, Khu phố 3B, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 9 năm 2020, bản tự khai và tại các biên bản của Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A trình bày: Bà và ông V chung sống với nhau năm 2000, đăng ký kết hôn vào năm 2000 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01, ngày 17/01/2000 tại Ủy ban nhân dân xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng thường xãy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau, bất đồng quan điểm. Hai bên không còn chung sống với nhau từ tháng 13/2015. Vì vậy, nay bà yêu cầu ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà Thảo xác định bà và ông V có 01(một) con chung đã đủ 18 tuổi là Ngô D, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2000.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Thảo không yêu cầu toà giải quyết.
Bị đơn ông Ngô Văn V đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị A có đơn để nghị tòa xét xử vụ án vắng mặt bà. Ông Ngô Văn V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa xét xử vụ án vắng mặt bà Thảo, ông V.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị A và ông Ngô Văn V chung sống với nhau từ năm 2000, đã đăng ký kết hôn vào năm 2000, vì vậy căn cứ vào các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa cần xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Ngô Văn V hiện đang cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về các yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thảo và ông V chung sống với nhau năm 2000, đăng ký kết hôn vào năm 2000 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01, ngày 17/01/2000 tại Ủy ban nhân dân xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng thường xãy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau, bất đồng quan điểm. Hai bên không còn chung sống với nhau từ tháng 13/2015. Vì vậy, nay bà yêu cầu ly hôn với ông V.
Căn cứ trả lời Phiếu yêu cầu xác minh ngày 09 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận 12 tại V an phường C, Quận 12 có ghi nhận nội dung: “ Ông Ngô văn V, sinh năm 1976, có đăng ký tạm trú tại nhà không số, tổ 16, Khu phố 3B, phường C, Quận 12, nhưng đã đi khỏi địa phương từ tháng 9/2020 không rõ địa chỉ nơi ở mới.”. Căn cứ trả lời Phiếu yêu cầu xác minh ngày 15 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận 12 tại Ủy ban nhân dân phường C, Quận 12 có ghi nhận nội dung: “ Qua xác minh, Hội liên hiệp phụ nữ phường C nhận thấy: 1. Mâu thuẫn giữa bà Thảo và ông V không trình báo chính quyền địa phương nên Hội không nắm rõ. 2. Ông V không ở tại địa chỉ trên từ năm 2015. 3. Hiện có một con chung sinh năm 2000, ông V không về thăm con từ 2015 đến nay”. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông V, nhưng ông V không đến tòa để có thể trình bày ý kiến, hoặc có thể hòa giải với bà Thảo. Tình tiết này kết hợp với các tình tiết đã xác minh như đã nêu trên chứng tỏ ông V không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Hai bên không có hành động gì để liên lạc, gặp gỡ để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Có thể thấy, quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A, tuyên cho bà Thảo được ly hôn với ông Ngô Văn V.
Về con chung: Bà Thảo xác định bà và ông V có 01(một) con chung đã đủ 18 tuổi là Ngô D, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2000.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Thảo xác định không yêu cầu toà giải quyết và ông V cũng không có đơn yêu cầu tòa giải quyết, nên không xét.
Bà Nguyễn Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Ông Ngô Văn V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 266, 267 và 275 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A, tuyên cho bà Nguyễn Thị A được ly hôn với ông Ngô Văn V.
2. Về con chung: Bà Thảo xác định bà và ông V có 01(một) con chung đã đủ 18 tuổi là Ngô D, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2000. Do con chung đã đủ 18 tuổi, nên tòa không xét việc giao nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Thảo xác định không yêu cầu toà giải quyết và ông V cũng không có đơn yêu cầu tòa giải quyết, nên không xem xét.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị A phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Thảo đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0105180 ngày 09 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12. Ông Ngô Văn V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01, ngày 17/01/2000 tại Ủy ban nhân dân xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định cấp cho bà Nguyễn Thị A và ông Ngô Văn V không còn hiệu lực.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kề từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.12; - Chi cục THADS Q.12; - UBND xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Sơn |