vanban.org

Bản án 565/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Đăng H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đăng Hưởng - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH Đ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 565/2021/HS-ST.
Ngày 28 - 12 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.

Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 574/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 564/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo: Phạm Đăng H, sinh năm 1993 (có mặt), tại N; Nơi cư trú: huyện Đg, tỉnh P; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Phạm Đ.B, sinh năm 1965 và bà Vương Thị C, sinh năm: 1967; chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 13/8/2020, bị Tòa án nhân dân quận G, thành phố M xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 23/4/2021, Phạm Đăng H chấp hành án xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/6/2021, chuyển tạm giam theo lệnh số: 835 ngày 22/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Đăng H là người sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 19 giờ ngày 13/6/2021, H đi đến khu vực thuộc huyện B.C, thành phố M gặp một người tên V (không rõ lai lịch) mua 10 (Mười) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) và 02 (Hai) gói heroin với giá 3.000.000đồng (Ba triệu đồng). Sau khi mua ma túy, H lấy một ít sử dụng, phần còn lại H đem cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải H đang mặc với mục đích bán cho người khác kiếm lời.

Vào khoảng 15 giờ ngày 14/6/2021, H điều khiển xe mô tô biển số : 60V7-7330 đem số ma túy trên xuống thành phố B để bán. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, tại đoạn đường Trần Thị Hoa thuộc khu phố 1, phường A, thành phố B, H đang tìm người để bán ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang cùng tang vật chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Tại Cơ quan điều tra Phạm Đăng H khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ:

- 10 (Mười) gói nilon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, H khai là ma túy tổng hợp (hàng đá) và 02 (Hai) gói nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng, H khai là heroin đã được niêm phong có chữ ký của Phạm Đăng H và dấu mộc của Công an phường A;

- 01 (Một) điện thoại Iphone màu đen có số imei : 353802080423652 và số sim 0931470526;

- 01 (Một) xe mô tô biển số: 60V7-7330.

* Quá trình điều tra làm rõ: 01 (Một) điện thoại Iphone màu đen có số imei : 353802080423652 và số sim 0931470526 không liên quan đến vụ án; Kết quả xác minh tại Công an huyện T, tỉnh Đ 01 xe mô tô biển số: 60V7-7330 do bà Trần Thị Kim L ngụ tại 6E/3, ấp Bạch Lâm, xã Gia Tân 2, huyện T, tỉnh Đ đứng tên đăng ký sở hữu. Bà Trần Thị Kim L khai đã bán cho một người khác (chưa rõ lai lịch). H khai H mượn chiếc xe trên của một người tên K (chưa rõ lai lịch) để sử dụng. Do chưa xác định được nguồn gốc và chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Tại Kết luận giám định số: 1223/KLGĐ-PC09 ngày 22/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận:

- 10 (Mười) gói nilon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu là M1) là ma túy, khối lượng 9,6002 gam, loại Methamphetamine.

- 02 (Hai) gói nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng (ký hiệu là M2) là ma túy, khối lượng 1,7157 gam, loại Heroin (Heroine).

Tại bản cáo trạng số: 586/CT-VKSBH ngày 19/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đ truy tố bị cáo Phạm Đăng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Phạm Đăng H từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.

- Trả lại cho Phạm Đăng H 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số imei: 353802080423652 do không liên quan đến hành vi phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, người làm chứng, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 16giờ 30 phút ngày 14/6/2021, tại đoạn đường Trần Thị Hoa thuộc khu phố 1, phường A, thành phố B, tỉnh Đ bị cáo Phạm Đăng H đang thực hiện hành vi tìm người để bán trái phép 9,6002 gam ma túy, loại Methamphetamine và 1,7157 gam loại Heroine nhưng chưa kịp bán được thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Tại Kết luận giám định số: 1223/KLGĐ-PC09 ngày 22/6/2021 của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận:

- 10 (Mười) gói nilon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu là M1) là ma túy, khối lượng 9,6002 gam, loại Methamphetamine.

- 02 (Hai) gói nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng (ký hiệu là M2) là ma túy, khối lượng 1,7157 gam, loại Heroin (Heroine).

Hành vi của bị cáo Phạm Đăng H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo biết rõ việc mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy pháp luật nghiêm cấm, nhưng để có ma túy sử dụng, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật. Nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Đăng H có 01 tiền án, ngày 13/8/2020, bị Tòa án nhân dân quận G, thành phố M xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 23/4/2021, bị cáo Phạm Đăng H chấp hành án xong hình phạt tù thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số: 1223 ngày 22/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ.

- Trả lại cho bị cáo Phạm Đăng H 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, model A1778, số imei: 353802080423652 đã qua sử dụng, vỡ miếng dán màn hình, không kiểm tra tình trạng bên trong do không liên quan đến hành vi phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đ).

Đối với đối tượng tên V (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Theo kết quả xác minh tại Công an huyện T, tỉnh Đ, xe mô tô biển số: 60V7-7330 do bà Trần Thị Kim L ngụ tại 6E/3, ấp Bạch Lâm, xã Gia Tân 2, huyện T tỉnh Đ đứng tên đăng ký sở hữu. Bà Trần Thị Kim L khai đã bán cho một người khác (chưa rõ lai lịch). Bị cáo Phạm Đăng H khai mượn chiếc xe mô tô biển số: 60V7-7330 của một người tên K (chưa rõ lai lịch) để sử dụng. Do chưa xác định được nguồn gốc và chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Đăng H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Đăng H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số: 1223 ngày 22/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ.

- Trả lại cho bị cáo Phạm Đăng H 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, model A1778, số imei: 353802080423652 đã qua sử dụng, vỡ miếng dán màn hình, không kiểm tra tình trạng bên trong do không liên quan đến hành vi phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đ).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ