- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MIN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 562/2023/HNGĐ-ST Ngày:20-7-2023. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Chiến.
1. Ông Phạm Văn Tuyền.
2. Ông Vũ Huy Hoàng .
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 909/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022. Về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 209/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/6/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị O, sinh năm 1972. (có mặt).
Địa chỉ: 12D/23 đường Lê Thị Dung, tổ 6, ấp 4A, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Đào Quốc H, sinh năm 1970. (vắng mặt).
Địa chỉ: 12D/23 đường Lê Thị Dung, tổ 6, ấp 4A, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện; bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa, bà Bùi Thị O trình bày:
Bà Bùi Thị O và ông Đào Quốc H tự nguyện kết hôn vào năm 1993; theo giấy chứng nhận kết hôn số 236/KH, quyển số 01, ngày 18/6/1993 do Ủy ban nhân dân thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà cấp.
Thời gian đầu sống chung hạnh phúc và có 04 con chung tên là Đào Ngọc Anh, sinh năm 1995; Đào Ngọc Huyền, sinh năm 1997; Đào Ngọc Dung, sinh năm 2000 và Đào Ngọc Thùy Trang, sinh ngày 21/11/2008; Các con Anh, Huyền, Dung đều đã trưởng thành, lập gia đình và ra ở riêng. Trẻ Trang còn đi học và đang sống chung với cha mẹ.
Đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được; nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; cả hai đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau từ lâu.
Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà O yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông H. MAÃU 52/NQ01/2017
Về con chung: Có 04 con chung; 03 con đều đã trưởng thành, lập gia đình và có cuộc sống riêng. Đối với trẻ Đào Ngọc Thùy Trang, sinh ngày 21/11/2008 đang còn đi học; bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Trang; không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà O không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Đào Quốc H vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không tham dự phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên việc giải quyết vụ án vẫn còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1].Bà Bùi Thị O khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Đào Quốc H; ông H có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
.Về sự vắng mặt của bị đơn ông Đào Quốc H, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông H vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án; Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về Nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 236/KH, quyển số 01, ngày 18/6/1993 do Ủy ban nhân dân thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà cấp, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị O và ông Đào Quốc H là hôn nhân hợp pháp được qui định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị O xác nhận là đời sống chung giữa bà và ông H có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong MAÃU 52/NQ01/2017 cuộc sống, tính tình không còn hòa hợp và không ai còn quan tâm chăm sóc nhau từ lâu.
Tại kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung “không có cơ sở để xác định những nội dung mà Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh yêu cầu”. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà O và thực tế cả hai đã sống ly thân và từ lâu không ai còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau thì có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa bà O và ông H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Bùi Thị O yêu cầu ly hôn với ông Đào Quốc H là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị O .
Về con chung: Bà O yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Đào Ngọc Thùy Trang, sinh ngày 21/11/2008; bà O không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu của bà O là phù hợp, bởi lẽ kể từ khi bà và ông H mâu thuẫn và sống ly thân thì trẻ Trang do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và hiện tại trẻ trang đang ở với bà O; và cần sự ổn định về tâm sinh lý của trẻ; đồng thời tại biên bản ghi nhận ý kiến trẻ thì trẻ Trang cũng mong muốn được ở với bà O. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà O.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà O không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H .
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Bùi Thị O khai là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng ông H vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung, nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung theo chứng cứ và yêu cầu của bà O. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
Ông Đào Quốc H đã được Tòa án triệu tập đến để ghi nhận ý kiến, tiến hành thủ tục giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng ông vẫn vắng mặt. Vì vậy, ông đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Bùi Thị O phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; MAÃU 52/NQ01/2017
Căn cứ khoản 1 Điều 6; Điều 91, 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị O đối với ông Đào Quốc H.
Bà Bùi Thị O được ly hôn với ông Đào Quốc H. Quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị O và ông Đào Quốc H chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 236/KH, quyển số 01, ngày 18/6/1993 do Ủy ban nhân dân thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao trẻ Đào Ngọc Thùy Trang, sinh ngày 21/11/2008 cho bà Bùi Thị O trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H.
Ông Đào Quốc H có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.
3.Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà O khai là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết; Riêng ông H vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung, nợ chung.Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
4.Về án phí: Bà Bùi Thị O chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0041789 ngày 19/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà O đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự (4); - VKSND H. Bình Chánh (2); - Chi cục THADS H. Bình Chánh (1); - Cơ quan nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn (1); - Lưu hồ sơ vụ án (4). MAÃU 52/NQ01/2017 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Chiến |