- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lộc Thị N xin ly hôn anh Đàm Ngọc Q"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a kho…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 56/2023/HNG§-ST Ngµy 07 th¸ng 9 n¨m 2023 V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình". |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
* Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Sửu.
2. Ông Trần Văn Thiện.
* Thƣ ký phiên toà: Ông Phạm Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên.
* Đại diện VKSND huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/6/2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 159/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lộc Thị N, sinh năm 1981 (Có mặt)
Cư trú: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh B.
- Bị đơn: Anh Đàm Ngọc Q, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Cư trú: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 10/2/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lộc Thị N trình bày:
Chị và anh Đàm Ngọc Q kết hôn ngày 25/3/2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh B. Trước khi kết hôn vợ chồng chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị và anh Q về chung sống với nhau tại gia đình anh Q. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 02/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q thường xuyên rượu chè, xúc phạm đến bố mẹ chị dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau. Vợ chồng chị đã ly thân từ ngày 04/2/2023 đến nay. Nay chị xác định mẫu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị yêu cầu Toà án nhân dân huyện Tân Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh Đàm Ngọc Q.
Về con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là Đàm Thị Thủy T, sinh ngày 19/2/2014, Đàm Ngọc Q, sinh ngày 08/7/2015 hiện đang ở với chị. Ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi 02 con chung và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm công nhân, lương được hưởng là 8.000.000 đồng/tháng. Chị có nơi ở ổn định và nuôi 02 con ăn học từ khi ly thân đến nay.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng chị tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Đàm Ngọc Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Q không có mặt để làm việc với Tòa án về những vấn đề liên quan vụ án mà anh Q là bị đơn. Tại phiên tòa, anh Đàm Ngọc Q vắng mặt.
* Tại biên bản xác minh ngày 09/8/2023, ông Nguyễn Trọng P – Trưởng thôn C, xã L cho biết: Anh Đàm Ngọc Q là công dân hiện cư trú tại: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh B. Anh Q kết hôn với chị Lộc Thị N năm 2014, có đăng ký kết hôn và tổ chức đám cưới giữa hai bên gia đình. Sau khi kết hôn chị N về gia đình anh Q làm dâu. Đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế nên thường xuyên cãi vã, xô sát nhau. Vợ chồng chị N, anh Q hiện sống ly thân nhau.
Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung, tài sản, công nợ, án phí nhưng anh Q đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết vụ án, không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.
Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt không chấp hành.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 01 Điều 56, Điều 81, khoản 01 khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lộc Thị N được ly hôn với anh Đàm Ngọc Q.
- Về con chung: Giao cho chị Lộc Thị N nuôi dưỡng 02 con chung là Đàm Thị Thủy T, sinh ngày 19/2/2014, Đàm Ngọc Q, sinh ngày 08/7/2015.
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lộc Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần 2 đối với anh Đàm Ngọc Q nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số: 43/2023/QĐ-CCTLCC ngày 26/4/2023 về việc yêu cầu anh Q cung cấp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung, công nợ, liên quan đến tranh chấp hôn nhân và gia đình, bản tự khai trình bày quan điểm về: quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, công nợ và liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án cho anh Đàm Ngọc Q nhưng anh Đàm Ngọc Q không có mặt để làm việc với Tòa án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên phải chịu hậu quả pháp lý.
Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Lộc Thị N và anh Đàm Ngọc Q xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh B, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, chị N, anh Q có thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa chị N, anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho chị Lộc Thị N được ly hôn anh Đàm Ngọc Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lộc Thị N và anh Đàm Ngọc Q có 02 con chung là Đàm Thị Thủy T, sinh ngày 19/2/2014, Đàm Ngọc Q, sinh ngày 08/7/2015. Khi giải quyết vụ án về ly hôn này cần xem xét đến quyền lợi của các bên đương sự và quyền lợi mọi mặt của trẻ em.
Xét điều kiện nuôi con thấy: Từ lúc ly thân tháng 02/2023 đến nay thì chị N là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đàm Thị Thủy T, Đàm Ngọc Q. Hiện cả cháu Tiên và cháu Quang đều đang phát triển bình thường, ổn định và giữa chị N, anh Q không có ý kiến tranh chấp về nuôi con chung. Chị N đang làm công nhân, có thu nhập, nơi ở ổn định đảm bảo cuộc sống và đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Tiên và cháu Quang và sự phát triển tâm sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc. Nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng của chị N. Cần giữ nguyên hiện trạng nuôi con chung của chị N như hiện nay là phù hợp nguyện vọng của cháu T và cháu Q. Giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Đàm Thị Thủy T, sinh ngày 19/2/2014, Đàm Ngọc Q, sinh ngày 08/7/2015 là đảm bảo sự ổn định, phát triển về mọi mặt của cháu T và cháu Q và phù hợp Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Anh Đàm Ngọc Q không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị Lộc Thị N và anh Đàm Ngọc Q không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị Lộc Thị N và anh Đàm Ngọc Q không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lộc Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lộc Thị N được ly hôn anh Đàm Ngọc Q.
2. Về con chung: Giao cho chị Lộc Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Đàm Thị Thủy T, sinh ngày 19/2/2014, Đàm Ngọc Q, sinh ngày 08/7/2015.
Anh Đàm Ngọc Q không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lộc Thị N và anh Đàm Ngọc Q không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lộc Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0004950 ngày 30/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Chị Lộc Thị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang, - VKSND huyện Tân Yên, - Chi cục THADS Tân Yên, - UBND xã L, - Các đương sự, - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dƣơng |