vanban.org

Bản án 56

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 06/06/2022 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụn : kho n 1 Điều 341; Điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên b : Bị cáo Ngô Thị Mỹ A, phạm tội “Sử dụng tài liệu gi của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt: Ngô Thị Mỹ A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Ngô thị Mỹ A - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụn : kho n 1 Điều 341; Điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và tuyên phạt; Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N NH N N

N H

H

H N H V T N M T NH NH TH N

Đ c p - T do - H nh ph c n n s : 56/2022/HS-PT N 06 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC C N H XÃ H I CH N H V T NAM

T ÁN NH N N T NH NH TH N

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu.

Các Thẩm phán: Ông Võ Việt Minh v b Vũ Thị Thanh Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưn , Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ôn Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý s : 32/2022/TLPT-HS ngày 17 tháng 3 năm 2022 đ i với bị cáo Ngô Thị Mỹ A do có kháng cáo của bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s : 04/2022/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành ph P.

- Bị cáo có kháng cáo: NGÔ THỊ MỸ A, sinh năm 1981, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu ph 02, phường P1, thành ph P, tỉnh Bình Thuận; Qu c tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Con ôn N ô Văn T, sinh năm 1940 (chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1940, hiện trú tại phường P1, TP. P, tỉnh Bình Thuận; ia đình có 07 anh em, bị c o l con út tron ia đình; có chồng tên Dươn Chí H, sinh năm 1981 và có 02 n ười con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đan được tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.

N

N VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tr nợ và chữa bệnh cho cháu ngoại nên sau khi phát hiện tài kho n mạng xã hội Facebook có tên “Quan Loc” đăn t i nội dun “chu ên nhận làm các loại giấy tờ” nên N ô Thị Mỹ A liên lạc với “Quan Loc” qua ứng dụn Messen er đặt “Quan Loc” l m i 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì “Quan Loc” đồng ý. Khi biết mục đích A làm gi giấy chứng nhận quyền sử dụn đất l để cầm thế thì “Quan Loc” hướng dẫn A làm gi thêm 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thể hiện A còn độc thân để A có thể đi côn chứng hợp đồng cầm thế giấy chứng nhận quyền sử dụn đất tại văn phòn côn chứng mà không cần chồn đi cùn thì A đồng ý.

Sau khi thỏa thuận xong, A chụp hình các giấy tờ có liên quan và gửi cho “Quan Loc” qua ứng dụn Messen er. “Quan Loc” b o cho A biết giá làm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụn đất và 01 giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân đều mang tên Ngô Thị Mỹ A là 10.000.000đồng và A ph i đặt cọc trước 1.000.000đồng. Vì không có tiền nên ngày 02/12/2020, A nhờ con gái ruột là Dươn Hòa B đến ngân hàng Sacombank chi nhánh tại huyện C, tỉnh Bình Thuận chuyển 500.000đồng tiền đặt cọc cho “Quan Loc” qua s tài kho n 35409785678, tên n ười thụ hưởng: Nguyễn Vũ S, sinh năm 1995, đăn ký hộ khẩu thường trú tại ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Vĩnh Lon . Nhận được tiền, “Quan Loc” cho A s điện thoại 0906879710 để A liên hệ.

Kho ng 09 giờ ngày 08/12/2020, A nhận được điện thoại (không nhớ s thuê bao) của một n ười đ n ôn b o iao h n , A hẹn gặp tại cầu Trần Hưng Đạo thuộc phường D, thành ph P. Tại đâ , A gặp 01 đ i tượng nam giới (khôn rõ nhân thân, địa chỉ) và nhận từ đ i tượng này 01 giấy chứng nhận quyền sử dụn đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất s CV 169262 do Sở T i n u ên v môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 21/5/2020, s vào sổ cấp GCN: CS 00032 đ i với thửa đất s 606, tờ b n đồ s 16, tọa lạc tại khu ph 02, phường P1, thành ph P, tỉnh Bình Thuận, có diện tích 52,5m2, loại đất ở tại đô thị mang tên Ngô Thị Mỹ A (gọi tắt là giấy chứng nhận quyền sử dụn đất s CV 169262) và 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân s 112/UBND-XNTTHN do Uỷ ban nhân dân phường P1 cấp ngày 12/11/2020 (gọi tắt là giấy xác nhận tình trạng hôn nhân s 112) cho Ngô Thị Mỹ A. Sau đó A đưa cho đ i tượn n 9.500.000đồng.

Kho ng 12 giờ ngày 08/12/2020, A đến cửa hàng cầm đồ của anh Nguyễn Thành T1, sinh năm 1989 ở xã E, huyện C, tỉnh Bình Thuận hỏi anh T1 có nhận thế sổ đỏ không thì anh T1 tr lời có nhưn ph i đi xem đất, xem nh , đồng thời anh T1 cho biết A ph i lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụn đất cho anh T1 để đ m b o cho việc cầm thế thì A đồng ý. A đưa iấy chứng nhận quyền sử dụn đất s CV 169262 gi và chứng minh nhân dân, cùng sổ hộ khẩu của A cho anh T1 xem rồi đưa ra i cầm thế l 100.000.000đồng. Sau khi xem các giấy tờ trên, anh T1 đồng ý cầm thế theo s tiền A đưa ra với lãi suất cầm thế là 5%/1 tháng.

Kho ng 13 giờ 30 phút cùng ngày, anh T1 đến nhà A để A dẫn đi xem thửa đất s 606 tại đường Cao Hành thuộc khu ph 02, phường P1. Đến kho ng 14 giờ ngày 08/12/2020, A, chị B cùng anh T1 đến Văn phòn côn chứng Nguyễn Dần tại địa chỉ khu ph 13, phường Phú Thuỷ, thành ph P, tỉnh Bình Thuận để công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụn đất giữa A và anh T1. Khi A nộp giấy chứng nhận quyền sử dụn đất s CV 169262 và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân s 112 để làm thủ tục công chứng thì anh Lê Thanh Phong l nhân viên văn phòn côn chứng Nguyễn Dần phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụn đất s CV 169262 có dấu hiệu nghi là gi nên trình báo sự việc đến Côn an phường Phú Thủy, thành ph P. Tại Cơ quan Côn an, A đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nêu trên.

Vật chứng vụ n thu được:

+ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụn đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài s n khác gắn liền với đất s CV 169262 do Sở T i n u ên v môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 21/5/2020, s vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS 00032, có tên và chữ ký của ông Nguyễn Minh Quang, dấu tròn đỏ của Sở T i n u ên v môi trường tỉnh Bình Thuận.

+ 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân s 112/UBND-XNTTHN ngày 12/11/2020, có tên và chữ ký của ông Phạm Tuân, dấu tròn đỏ của Ủy ban nhân dân phường P1.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsun Galax Tab 3V v 01 điện thoại di động hiệu GOGO.

Tại B n kết luận i m định s 323/KLGĐ-PC09 ngày 29/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

- “Phôi “Giấy chứng nhận quyền sử dụn đất quyền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất” s : CV 169262, mang tên: Ngô Thị Mỹ A, đề ngày 21/5/2020 (ký hiệu A) là gi .

- Hình dấu tròn có nội dun “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” trên tài liệu cần i m định ký hiệu A là hình dấu gi .

- Chữ ký mang tên Nguyễn Minh Q trên tài liệu cần i m định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Nguyễn Minh Q trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 là không ph i do cùng một n ười ký”.

Tại B n kết luận i m định s 324/KLGĐ-PC09 ngày 17/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

- “Hình dấu tròn có nội dun “U. .N.D P. P1 TP. P T.Bình Thuận” trên tài liệu cần i m định (ký hiệu A) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) là không ph i do cùng một con dấu đón ra.

Chữ ký mang tên Phạm Tuân trên tài liệu cần i m định (ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên Phạm Tuân trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) không ph i do cùng một n ười ký”.

Tại B n án hình sự sơ thẩm s : 04/2022/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành ph P, quyết định:

Tuyên b : Bị cáo Ngô Thị Mỹ A, phạm tội “Sử dụng tài liệu gi của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng: Kho n 1 Điều 341; Điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Ngô Thị Mỹ A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, b n n sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27/01/2022, bị cáo Ngô Thị Mỹ A có đơn kh n c o xin gi m nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Thị Mỹ A vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc gi i quyết vụ án: B n n sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô Thị Mỹ A về tội “Sử dụng tài liệu gi của cơ quan, tổ chức” theo kho n 1 Điều 341 Bộ luật hình sự l có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét c c tình tiết tăn nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và tuyên phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp v có căn cứ pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị c o khôn đưa ra được tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó việc bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt l khôn có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên b n n sơ thẩm.

NH N ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục t tụng: Xét thấy đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Thị Mỹ A được làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Thị Mỹ A khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thừa nhận Tòa n cấp sơ thẩm xét xử bị c o về tội “Sử dụng tài liệu gi của cơ quan, tổ chức” theo kho n 1 Điều 341 Bộ luật hình sự l đún , khôn oan.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Thị Mỹ A: Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự qu n lý h nh chính Nh nước. Xâm phạm hoạt độn bình thường của cơ quan, tổ chức tron lĩnh vực qu n lý hành chính về con dấu, tài liệu gây nh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã căn cứ vào nhân thân và áp dụng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo qu định tại điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tuyên phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là đã có sự chiếu c , khoan hồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị c o khôn đưa ra được tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt của bị c o l khôn có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tu ên như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[4] Các quyết định khác của b n n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí phúc thẩm theo qu định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355 v Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thị Mỹ A và giữ nguyên B n án hình sự sơ thẩm s 04/2022/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành ph P.

Áp dụn : kho n 1 Điều 341; Điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên b : Bị cáo Ngô Thị Mỹ A, phạm tội “Sử dụng tài liệu gi của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Ngô Thị Mỹ A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, kho n 2 Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự; kho n 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Qu c hội qu định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo N ô Thị Mỹ A ph i nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của B n n sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 06/6/2022)./.

Cỡ chữ