- Tranh chấp gì? "Nguyễn Anh T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 18/12/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Tßa ¸n nh©n d©n HuyÖn PHÚC THỌ thµnh phè Hµ néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 56/2024/HS -ST Ngµy 02 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Sơn.
Ông Nguyễn Văn Học.
- Thư ký phiên tòa (tại điểm cầu trung tâm): Ông Lương Hữu Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
Hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Anh D Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội và tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam số 01 Công an Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuY công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST - HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST - QĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với:
- Bị cáo (tại điểm cầu thành phần): Nguyễn Anh T, sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn P, xã V, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn K và bà Dương Thị T; có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016; tiền án: Bản án số 03/2019/HSST ngày 30/01/2019, TAND huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản”; Bản án số 62/2019/HSST ngày 21/11/2019, TAND huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản” (Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 20/03/2023); nhân thân: Bản án số 17/2006/HSST ngày 26/07/2006 TAND huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản”, chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 24/10/2006, đã thi hành xong; bản án số 12/2008/HSST ngày 29/09/2008 TAND huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản”, đã thi hành xong; bản án số 10/2015/HSST ngày 30/01/2015 TAND huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản”, ra trại ngày 17/01/2016; đã thi hành xong; Quyết định số 14 ngày 03/5/2004, Công an huyện Phúc Thọ xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt Cảnh cáo về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 07/09/2018, Công an xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp T sản”, hình thức phạt tiền: 1.500.000 đồng, đã nộp ngày 08/09/2018; theo danh chỉ bản số 499 lập ngày 23/12/2023 của Công an huyện Phúc Thọ; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu trung tâm:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đặng Quốc H, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
+ Người làm chứng:
- Ông Kiều Văn D, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Chị Sầm Thu Th, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ 30 phút, sáng ngày 18/12/2023, Nguyễn Anh T đang ở nhà thì có số điện thoại lạ gọi đến (số điện thoại 0985.650.415, T không lưu tên trong danh bạ). T nghe máy thì người gọi nói “T à, anh Hưng Sơn Đông đây, em có không, để anh cái 200” (ý là hỏi T có ma túy Heroine không, bán cho gói ma túy giá 200.000 đồng). Do sẵn trong người còn 01 (một) gói ma túy chưa sử dụng, T đồng ý bán và nói, khi nào đi đến ngã tư chợ Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thì gọi điện lại. T tắt máy và lưu số điện thoại vừa gọi vào mục danh bạ là “SĐông”. Sau đó, T cầm gói ma túy trên tay trái và điều khiển xe máy kiểu dáng YAMAHA Classico màu xanh, đã cũ, BKS: 19K2-6440 từ nhà đi bán ma túy. Khoảng 10 giờ 00 phút, Hưng gọi điện lại cho T nói là “anh đến nơi rồi”, T đi ra Ngã tư chợ Võng Xuyên thì thấy có một người đàn ông (Quá trình điều tra đã xác định là Đặng Quốc H, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn P, xã Long X, huyện Phúc Thọ) đang ngồi trên xe máy nghe điện thoại tại cổng chào thôn P, xã V, có dáng vẻ giống người nghiện ma túy. T đi xe máy lại gần sát bên tay phải người này, đang định đưa gói ma túy cầm trên tay
- 2 -
trái và nhận tiền của Hưng thì bị Đội CSĐTTP về KT - MT Công an huyện Phúc Thọ phối hợp với Công an xã Võng Xuyên phát hiện bắt quả tang.
T liệu, đồ vật thu giữ gồm:
- Thu giữ của Nguyễn Anh T: 01 (một) gói giấy màu trắng vo tròn, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng có kích thước khoảng (1x0,5)cm chứa chất bột màu trắng; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng SAMSUNG màu vàng đã cũ, xung quanh viền có vết bong chóc sơn; 01 (một) xe máy kiểu dáng YAMAHA Classico màu xanh, đã cũ, BKS: 19K2 - 6440.
- Thu giữ của Đặng Quốc H: 01 (một) xe máy kiểu dáng YAMAHA Jupiter màu bạc, mang BKS: 30X2- 2426 đã cũ; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Masstel màu xanh đã cũ; Số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng);
Ngày 18/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phúc Thọ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Anh T, tại địa chỉ: Thôn P, V, Phúc Thọ; Quá trình khám xét, không phát hiện và thu giữ đồ vật T liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 8412/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội, kết luận:“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng (bọc ngoài bằng giấy màu trắng) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,047gam.”
Bản cáo trạng số 39/CT- VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo T đã thừa nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đủ yếu tố cấu thành tội phạm như bản cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Vụ án được khởi tố, truy tố và xét xử do các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, nội dung các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
- 3 -
Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Anh T mua 01 gói ma túy loại heroin của một người đàn ông không quen biết vào ngày 17/12/2023 với giá 200.000 đồng tại khu vực vườn hoa phường Quang Trung, thị xã Sơn Tây, sau đó T lấy ra một ít để sử dụng, số còn lại T gói như cũ rồi cất giấu trong người. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, bị cáo nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0985.650.415 của Đặng Quốc Hưng hỏi mua ma túy Heroin. Bị cáo đồng ý bán gói ma túy Heroin với giá là 200.000 đồng rồi hẹn nhau đến ngã tư chợ Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, T cầm gói ma túy trên tay trái và điều khiển xe máy kiểu dáng YAMAHA Classico màu xanh, đã cũ, biển kiểm soát 19K2 - 6440 từ nhà đi đến điểm hẹn bán ma túy cho Hưng, đang định đưa gói ma túy và nhận tiền của Hưng thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Kết quả giám định là ma túy loại Heroin tổng khối lượng là 0,047 gam. Bị cáo Nguyễn Anh T đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi mua ma túy loại heroin về để bán lại cho người khác đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết tăng nặng định khung “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Hiện tại trên địa bàn huyện Phúc Thọ các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội, làm phát sinh nhiều loại tệ nạn khác trong xã hội; Bị cáo là người đang ở độ tuổi lao động, đáng lẽ bị cáo phải tìm cho mình một công việc phù hợp để nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì hám lợi bị cáo đã mua bán trái phép chất ma tuý để kiếm lời, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm là tình tiết tặng nặng định khung, nên không áp dụng tình tiết này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- 4 -
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, T sản không có, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 (một) xe máy kiểu dáng YAMAHA Jupiter màu bạc, đã cũ, mang BKS: 30X2-2426, thu giữ của Đặng Quốc H. Kết quả tra cứu thấy, chiếc xe máy trên không nằm trong dữ liệu xe máy vật chứng, người đứng tên chính chủ trong đăng ký là chị Nguyễn Thị Y (SN: 1970, HKTT: Thôn 3, xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, Hà Nội). Chị Y mua mới chiếc xe máy trên năm 2009, với giá hơn 20.000.000đồng, để sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Khoảng gần 08 giờ sáng ngày 18/12/2023, chị Y có cho H mượn chiếc xe máy để chở cháu gái ra bến xe, việc H sử dụng xe máy đi mua ma túy, chị Y hoàn toàn không biết. Chị Y đã có đơn xin lại chiếc xe máy nêu trên. Ngày 05/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị Y là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 (một) xe máy kiểu dáng YAMAHA Classico màu vàng đã cũ, mang BKS:19K2-6440, thu giữ của T. Kết quả tra cứu thấy, chiếc xe máy trên không nằm trong dữ liệu xe máy vật chứng, người đứng tên chính chủ trong đăng ký là bà Nguyễn Thị X (SN: 1968, HKTT: Tổ 4 Khu Vân Cơ- phường Minh Phương- Việt Trì- Phú Thọ). Năm 2004, bà X mua mới chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA MIO CLASSICO màu xanh với giá khoảng 17.000.000 đồng, thường xuyên sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Đến khoảng tháng 01/2021, bà X bán chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Văn B (SN: 1973 HKTT: Thôn P- xã V- Phúc Thọ- Hà Nội) với giá khoảng 2.000.000 đồng, việc mua bán xe không làm giấy tờ gì. Ngày 15/12/2023, anh B cho Nguyễn Anh T mượn xe máy để làm phương tiện đi đón con, anh B hoàn toàn không biết việc T sử dụng xe máy để đi mua bán ma túy. Anh B đã có đơn xin lại chiếc xe máy nêu trên. Ngày 11/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh B là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Cơ quan điều tra chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ:
+ 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09 Công an thành phố Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần Nam, Đ/C Nguyễn Xuân Hưng, Đ/C Nguyễn Văn Trường - Cán bộ công an xã Võng Xuyên và đương sự Nguyễn Anh T. Xét đây là số ma túy heroine được niêm sau giám định là vật cấm nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu vàng, đã cũ, xung quanh viền có vết bong tróc sơn và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Masstel màu xanh đen, đã cũ. Xác định 02 chiếc điện thoại này là phương tiện bị cáo T và Đặng Quốc Hưng sử dụng làm phương tiện liên lạc khi mua bán ma túy, nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- 5 -
+ Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), thu giữ của Đặng Quốc Hưng, xét đây là số tiền Hưng dùng để mua ma túy, nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Các vấn đề khác:
- Quá trình điều tra, Nguyễn Anh T trình bày mua ma túy của một người đàn ông không quen biết ở khu vực phường Quang Trung, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã thực hiện các biện pháp nghiệp vụ nhưng không có căn cứ xác minh làm rõ, vì vậy không đề cập xử lý trong vụ án này. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với Đặng Quốc Hưng là đối tượng đã giao dịch, thỏa thuận mua ma túy của bị cáo Nguyễn Anh T, nhưng chưa giao tiền, chưa nhận ma túy thì bị Công an bắt giữ. Vì vậy, hành vi của Hưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, CQĐT chỉ nhắc nhở và yêu cầu chính quyền địa phương quản lý, giáo dục. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 18/12/2023.
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09 Công an thành phố Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần Nam, Đ/C Nguyễn Xuân Hưng, Đ/C Nguyễn Văn Trường - Cán bộ công an xã Võng Xuyên và đương sự Nguyễn Anh T.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu vàng, đã cũ, xung quanh viền có vết bong tróc sơn và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Masstel màu xanh đen, đã cũ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phúc Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ)
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
(Theo giấy nộp tiền ngày 19/4/2024 giữa Công an huyện Phúc Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ tại Ngân hàng Agribank - Chi nhánh huyện Phúc Thọ).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
- 6 -
Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. N¬i nhËn:
| - TAND thµnh phè Hµ Néi; - VKSND huyÖn Phúc Thọ; - C«ng an huyÖn Phúc Thọ; - THADS huyÖn Phúc Thọ; - BÞ c¸o; - L u hå s¬. - 7 - - 8 - | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa TrÇn Duy H ng |