- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Công M phạm tôi Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Công M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HUẾ THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2026/HSST Ngày: 20/03/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Trực.
2. Bà Bùi Lê Phương Thảo.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thuận, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Huế đã tiến hành xét sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 41/2026/HSST ngày 04/02/2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST- HS ngày 09/03/2026 đối với bị cáo:
Hoàng Công M (Tên gọi khác: không có); Giới tính: Nam; sinh ngày 04/02/1991, tại thành phố H; Căn cước công dân số: 046091013529; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP P, phường P, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lái xe ô tô; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Hoàng Nam T, sinh năm: 1965; Con bà: Hồ Thị T1, sinh năm: 1967; Hoàn cảnh gia đình: Có 2 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/10/2025 cho đến nay tại phường P, thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Cửu T2, sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn B, xã P, thành phố H (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1.Ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1943; Địa chỉ: Đ, thôn B, xã P, thành Phố H;vắng mặt
2.Bà Phan Thị B, sinh năm 1943; Đ1 chỉ: Đội 9, thôn B, xã P, thành Phố H;vắng mặt.
3.Chị Nguyễn Cửu Ngọc U, sinh năm: 2007; Địa chỉ: Số H Nhớ H, Tổ 74 HA, phường T, thành phố Đà Nẵng.Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Ông Nguyễn Anh Đ, bà Phan Thị B , chị Nguyễn Cửu Ngọc U: Ông Nguyễn Cửu T3, sinh năm: 1967; Địa chỉ: I N, phường A, thành phố H.Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Đại D, sinh năm: 1977; Địa chỉ: TDP A, phường P, thành phố H.Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Khắc T4, sinh năm: 1972; Địa chỉ: Thôn L, xã P, thành phố H.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/08/2025, Hoàng Công M, sinh năm: 1991, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 75C-143.78 (là xe của anh Đỗ Đại D, sinh năm: 1977, trú tại tổ dân phố A, phường P, thành phố H) chở đất về đổ tại bãi tập kết xã P, thành phố H. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, M điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường T theo hướng xã P đến xã P, thành phố H. Khi đi đến Km2+700, Tỉnh lộ 10B, thuộc địa phận thôn L, xã P, chuẩn bị vào giao lộ với đường dân sinh ở bên trái và đường T ở bên phải theo hướng di chuyển, đây là đoạn đường giao nhau cùng mức, điểm đầu của giao lộ theo hướng di chuyển của xe ô tô 75C-143.78 có các biển cảnh báo và đèn cảnh báo nguy hiểm. Tuy nhiên, do không chú ý quan sát và không giảm tộc độ đến mức an toàn có thể dừng lại nên khi vào gần giao lộ M phát hiện phía trước ngược chiêu có xe mô tô biển kiểm soát: 43X7 - 0611, do anh Nguyễn Cửu T2, sinh năm: 1976, trú tại thôn B, xã P, thành phố H điều khiển trên đường T, hướng từ phường H vào giao lộ. Lúc này, Minh đạp phanh để tránh sang bên trái nhưng do khoảng cách gần nên đầu xe ô tô 75C-143.78 đã va chạm vào thân xe mô tô 43X7 - 0611, sau đó xe ô tô do M điều khiển tiếp tục di chuyển về phía trước tông vào khu vực hàng rào, lán mộc nhà anh Phan Khắc T4, sinh năm: 1976, ở thôn L, xã P, thành phố H rồi dừng lại. Hậu quả của vụ tai nạn: anh Nguyễn Cửu T2 và Hoàng Công M bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T6 nhưng anh T2 đã tử vong, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng, khu vực lán mộc của nhà anh T4 bị tông đổ, hư hỏng một số tài sản.
Thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, Hoàng Công M có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, không sử dụng rượu bia, chất kích thích bị cấm. Anh Nguyễn Cửu T2 điều khiển phương tiện tham gia giao thông có sử dụng rượu bia với nồng độ cồn trong máu là: 99,72 mg/100ml máu), xe ô tô tải biển kiểm soát: 75C-143.78 còn thời hạn đăng kiểm.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông như sau:
Nơi xảy ra vụ việc là tại đoạn đường K+700 Tỉnh lộ 10B, xã P, thành phố H là đoạn giao lộ giữa đường T và đường T.
Tại đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông, đường Tỉnh lộ 10B là đoạn đường thẳng bằng phẳng, hướng từ xã P đi xã P, được trải nhựa đường rộng 8,6m, không có vật che khuất tầm nhìn, ở giữa có vạch kẻ đứt quãng màu vàng phân chia đường thành hai làn. Trước giao lộ giữa Tỉnh lộ 10B và đường T, hướng từ xã P đi xã P lần lượt có các biển báo: biển báo “Phía trước 50m công trường”, biển báo “Phía trước 200m giao nhau với đường không ưu tiên”, biển báo “Hạn chế tốc độ giới hạn 40km/h”, có đèn tính hiệu “Chú ý quan sát”, tiếp đến là 02 (hai) gờ giảm tốc. Đoạn giao lộ giữa đường Tỉnh lộ 10B và đường T có vạch chia làn dạng hình xương cá, kích thước (18,7x36,8x40,5)m. Trên đọan giao lộ này có đoạn đường nối ngang từ đường T đến đường T, phía trước vạch chia làn và nằm bên phải đường Tỉnh lộ 10B theo hướng xã P đi xã P. Đoạn đường nối ngang này là đoạn đường bằng phẳng, được trải nhựa đường rộng nhất 16,8m, hẹp nhất là 10m, ở giữa có vạch kẻ đường liền nét màu vàng chia đoạn đường thành hai chiều đi, mỗi chiều có một làn và có mũi tên chỉ dẫn di chuyển, làn đường có chiều hướng về đường Tỉnh lộ 10B có độ rộng lớn nhất 8,4m, hẹp nhất là 5,5m. Phía trước giao lộ, bên trái đường Tỉnh lộ 10B hướng xã P đi xã P giao nhau với đường dân sinh là đọan đường thẳng, bằng phẳng, được trải bê tông rộng nhất 9m, hẹp nhất 4,8m.
Chọn hướng khám nghiệm từ xã P đi xã P.
Lựa chọn mốc chuẩn: Chọn cột điện ký hiệu “384 NPC 10 35” nằm bên trái đường Tỉnh lộ 10B theo hướng khám nghiệm làm mốc cố định.
Lựa chọn mép chuẩn: Từ điểm giao nhau giữa đường T và đường dân sinh, kẻ đường thẳng nối dài theo mép đường bên trái đường Tỉnh lộ 10B theo hướng khám nghiệm làm mép chuẩn để đo đạc các dấu vết liên quan.
Qúa trình khám nghiệm ghi nhận như sau:
Vị trí số 01: Trên mặt đường nhựa của đường T phát hiện dãy dấu vết phanh xe, dạng hình cong, dài 21,8m, rộng 0,57m. Điểm đầu dấu vết cách mốc cố định 9,3m, cách mép chuẩn 4,9m (về bên phải theo hướng khám nghiệm) và có điểm kết thúc tại mép đường bên trái đường Tỉnh lộ 10B theo chiều khám nghiệm, có chiều hướng đậm dần về điểm cuối dấu vết.
Vị trí số 02: Trên mặt đường nhựa của đường Tỉnh lộ 10B phát hiện dãy dấu vết phanh xe, dạng hình cong, dài 17,1m, rộng 0,57m. Điểm đầu dấu vết cách mốc cố định 8m, cách mép chuẩn 4,1m (về bên phải theo chiều khám nghiệm), cách điểm đầu dấu vết tại vị trí số 01 (theo hướng đường Tỉnh lộ 10B đi đường dân sinh) 0,35m và có điểm kết thúc tại cột mốc ký hiệu “H7/2” ở mép đường bên trái đường Tỉnh lộ 10B theo hướng chiều khám nghiệm, đậm dần về cuối dấu vết.
Vị trí số 03: Trên mặt đường nhựa của đường Tỉnh lộ 10B phát hiện dãy dấu vết cày xước mặt đường, dạng hình cong (hướng từ đường Tỉnh lộ 10B về đoạn nối ngang tại giao lộ) có điểm đậm nhất tại trung tâm dấu vết, nằm trên diện (0,4x0,7)m. T5 dấu vết cách mép chuẩn 4,6m (về bên phải theo chiều khám nghiệm), cách điểm dầu dấu vết (tại vị trí số 02) 7,9m, cách điểm đầu dấu vết (tại ví trị số 01) 8m và có điểm kết thúc tại mép đường bên trái đường Tỉnh lộ 10B theo chiều khám nghiệm. Xung quanh dấu vết này có các mảnh sơn màu đen và các mảnh vỡ nhựa xe.
Vị trí số 04: Trên mặt đường nhựa của đường T phát hiện 01 (một) xe mô tô BKS: 43X7-0611 ngã nghiêng về bên trái, đầu xe chếch về hướng đoạn đường nối ngang, đuôi xe quay ngang về hướng ngược lại, trục bánh xe trước cách mép chuẩn 5,9m và trục bánh xe sau cách mép chuẩn 4,6m, cách tâm dấu vết (tại vị trí số 03) 1,5m. Xung quanh xe mô tô có các mảnh vỡ nhựa và quần, dép và mũ bảo hiểm màu xanh dương.
Tại vị trí số 05: Trên mặt đường nhựa của đường Tỉnh lộ 10B phát hiện 01 (một) vũng chất màu nâu đỏ (nghi máu) trên diện (1,3x0,7)m. T5 dấu vết cách mép chuẩn 5,2m, cách trục bánh xe sau (vị trí sô 04) 7,3m theo hướng khám nghiệm. Xung quanh vũng này có các mảnh vỡ nhựa xe màu đen, vàng và các mảnh vỡ thủy tinh.
Tại vị trí số 06: Trên nền đất cách mép trái đường Tỉnh lộ 10B, tại cột mốc bằng bê tông, kích thước (0,2x0,23x0,53)m ký hiệu “H7/2” , có dấu vết nứt vỡ bê tông, bề mặt cột mốc hướng vào đường Tỉnh lộ 10B có dấu vết trầy xước, bám dính chất màu đen. Cột mốc cách mép chuẩn 1m (về bên trái theo chiều khám nghiệm), cách tâm dấu vết số 05 (về bên trái theo hướng khám nghiệm) 6,7m.
Vị trí số 07: Tại nhà số A đường T có cổng cách lề đường 1,5m (về bên trái theo hướng khám nghiệm). Tại đường bên trái hướng đường T vào nhà phát hiện 01 (một) xe ô tô tải màu cam, mang BKS: 75C-143.78, trục bánh xe bên phải cách mép chuẩn 1,6m, cách tâm dấu vết (tại vị trí số 05) về bên trái theo hướng khám nghiệm 12,7m, trục sau bánh xe bên trái cách mép chuẩn 3,2m và trục trước bánh xe bên phải cách 4,1 m.
Vị trí số 08: Tại vị trí tường bên trái hướng từ cổng vào nhà số A đường T, ngay dưới phía trước đầu xe ô tô tải BKS: 75C-143.78 phát hiện vùng mảnh vỡ bê tông trên diện (3,3x5)m, phần cao nhất là 1,2m. T5 vùng mảnh vỡ cách cổng nhà 4,3 m.
Tại nhà số A đường T, xã P, thành phố H còn ghi nhận 01 (một) camera nhãn hiệu “IMOU” tại xà ngang đỡ mái hiên thứ tư (hướng từ cổng vào nhà), có hướng quét ra giao lộ, đang trong trạng thái hoạt động bình thương.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển kiềm soát: 75C-143.78 như sau:
- Toàn bộ đầu xe phía trước bị trầy xước dính đất đá xi măng, cụm cản trước mặt ngoài phía trước trầy xước, bong tróc sơn đen, dính đất đá xi măng cong lệch, chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, kích thước vùng (2,5 x0,35)m. Biển số gắn tại cản bị trầy xước, vỡ mika bảo vệ cong lệch hướng từ trước ra sau kích thước (17x33,5)m.
- Khung cụm đèn pha và đèn chuyển hướng trước bên trái bị rời ra khỏi vị trí ban đầu đã lộ phần dây điện màu đỏ dẫn vào trong đầu xe, cụm đèn pha phía trước bên phải bị vỡ mất thủy tinh bảo vệ, bên trong bị nứt vỡ hoàn toàn kích thước (44x28)cm.
- Bậc bước chân lên cabin trái và phải bị cong chiều hướng từ trước ra sau, đầu xe từ ốp tản nhiệt lên chân kính bên tài bị trầy xước và cong lệch hướng từ ngoài vào trong kích thước (1,2x0,25)m, điểm thấp nhất cách nền 1,05m.
- Kính chắn gió trước bị vỡ hoàn toàn, chiều hướng từ ngoài và trong, sàn gác chân và ghế lái có nhiều vụn mảnh vỡ kính và chất màu đỏ kích thước (45x15)cm.
Hai gương chiếu hậu trước 02 (hai) bên vỡ hoàn toàn, cọng chân gương cong lệch hướng từ trước ra sau.
- Mặt ngoài thanh chắn hông xe bên phải có 02 (hai) dấu vết trầy xước từ trước ra sau kích thước lần lượt (1x0,05)m và (0,99x0,005)m.
- Mặt bên lốp ngoài phía sau bên phải có dấu vết trầy làm mới cao su và bám dính chất sơn màu đỏ, đen kích thước (25x24)cm, 01 (một) dấu vết dính chất màu đỏ dạng vệt tại mặt ngoài vành và lốp kích thước (55x30)cm. Có 01 (một) dấu vết xước bám dính chất bẩn viền lốp trong bên phải kích thước (3x9)cm, kích thước độ rộng mặt lòng lốp đôi 57cm, lốp đơn 25cm, 02 (hai) dấu vết trầy dính xi măng và làm mới cao su mặt ngoài lốp trước bên trái kích thước lần lượt (23x19)cm và (45x14)cm.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát: 43X7-0611 như sau:
- Phần đầu trước và cụm đèn pha trước vỡ hoàn toàn mảnh nhựa nhỏ ốp chắn gió bên trái mặt ngoài có dấu vết trầy dính chất màu đen kích thước (11x5)cm, tấm nhựa mặt nạ trước bị bung hở cạnh bên trái mặt ngoài có bám dính chất màu đen kích thước (10x5)cm.
- Đầu tay phanh trước bên phải bị gãy đầu tay lái bên phải bị trầy làm xơ mới nhựa kích thước (15x3)cm.
- Nắp kim loại đậy hộp dầu phanh tay bị xước và sáng kim loại.
- Màn chắn gió bên phải bị bung hở, mặt ngoài trầy xước, kích thước tông
(50×16) cm.
- Viền gác chân và gầm bên phải bị xước làm xơ mới nhựa kích thước (28x8)cm, cọng kim loại chân chống giữa bên phải bị nứt kích thước (1x2)cm, mặt dưới gác chân sau bên phải bị trầy làm mới cao su kích thước (6,5x3)cm.
- Ống bô xe bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, mặt ngoài của ống bô bị xước kích thước 3,2cm, bụng và đuôi ống bô bị xước kim loại kích thước (8x3)cm, nắp thêm nhớt bị trầy xơ mới nhựa kích thước (3x1)cm.
- Mặt bên trái bánh lốp trước bị trầy làm mới cao su và dính chất màu đen kích thước (50x5)cm, mặt ngoài bên trái vành lốp trước bị xước và bám dính chất màu đen kích thước (2,5x41)cm. Ốc cố định lốp trước bên phải bị xước và bám dính xi măng.
- Bánh lốp sạu nứt vỡ hoàn toàn, vành xe ngay chính giữa bên phải đoạn gãy vành bánh sau có dấu vết xước làm sáng kim loại kích thước (5x2)cm.
- Càng sau tay nắm bên trái mặt ngoài bị trầy và bám dính chất màu đen kích thước (6x4)cm, mặt ngoài ốp bảo vệ đèn tín hiệu sau bên trái bám dính chất màu đen kích thước (13x2)cm.
- Cọng dưới cần đạp khởi động bên trái bị xước và sáng kim loại kích thước (1x1,5) cm. Hộp kim loại bảo vệ lốc máy sau bên trái mặt ngoài bị trầy xước và bám dính chất màu đỏ đen kích thước (11x11)cm, cọng gần trục chân chống giữa bên trái bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 541/KLGĐTT-KTHS ngày 22/09/2025, Phòng K Công an thành phố H kết luận nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Cửu T2: Đa chấn thương. Thời gian chết: Khoảng 01 giờ đến 03 giờ kể từ thời điểm khám nghiệm.
Cơ chế hình thành dấu vết:
+ Tổn thương vùng đỉnh - thái dương phải do tác động mạnh với vật tày, có chiều từ phải qua trái tạo nên. Tổn thương vùng thái dương trái do tác động với vật tày có chiều hướng từ trái qua phải.
+ Tổn thương vùng vai phải do tác động với vật tày diện rộng, bề mặt thô ráp, có chiều từ trái sang phải, từ trên xuống dưới tạo nên.
+ Tổn thương vùng lưng phải do tác động với vật tày diện giới hạn có chiều từ sau ra trước tạo nên.
+ Tôn thương vùng hông phải do tác động mài trượt với vật tày diện rộng, bề mặt thô ráp có chiều từ trên xuống dưới, từ sau ra trước tạo nên.
+ Tốn thương vùng tay phải do tác động đè ép, xé rách bởi vật tày, khối lượng nặng trên nền vật tày diện rộng tạo nên.
* Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống số: 515/25/KLTTCT, ngày 31/12/2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y thành phố H xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Công M là 63% (sáu mươi ba phân trăm).
* Tại bản kết luận giám định độc chất số: 89, 90/25/KLGĐĐC, ngày 22/08/2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y thành phố H kết luận: Mẫu máu của Nguyễn Cửu T2 được thu giữ ngày 07/08/2025 có hàm lượng cồn trong máu là: 97,72mg/100ml; Mẫu máu của Hoàng Công M được thu giữ ngày 07/08/2025 không phát hiện có hàm lượng cồn trong máu.
* Tại bản kết luận giám định hóa pháp số: 1923, 1927/PY - XNĐH, ngày 26/08/2025 của V kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Hoàng Công M và Nguyễn Cửu T2.
* Tại Công văn số: 246/ĐK - GĐ, ngày 14/10/2025 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới thuộc Sở xây dựng thành phố H, trả lời trưng cầu giám định xe ô tô 75C - 143.78 như sau:
+ Hệ thống phanh: Không phát hiện các hư hỏng bất thường của cơ cấu phanh trong các bánh xe. Do xe không nổ máy được nên không kiểm tra được rò rỉ khí nén và hiệu lực của hệ thống phanh chính và phanh đỗ.
+ Hệ thống lái: Không phát hiện rò rỉ dầu lái, các liên kết đầy đủ, chắc chắn. Không kiểm tra được hiệu lực lái do xe không nổ máy được.
+ Hệ thống đèn: Hệ thống đèn tín hiệu, đèn chiều sáng phía trước bị vỡ, hư hỏng do va chạm. Hệ thống đèn tín hiệu phía sau lắp đặt đầy đủ, chắc chắn. Do xe không nổ máy được nên không kiểm tra được sự làm việc của hệ thống.
+ Hệ thống bánh xe lắp đặt chắc chắn, đúng chủng loại theo quy định.
- Tại Báo cáo giám định số: 209/GD-GDH, ngày 12/11/2025, của Trung tâm giám định chất lượng xây dựng thuộc Sở xây dựng thành phố H kết luận về thiệt hại của công trình xây dựng tại nhà anh Phan Khắc T4 bị hư hỏng vào ngày 07/08/2025 như sau:
+ Xác định phần trăm giá trị còn lại của công trình là: 96,67%:
+ Giá trị thiệt hại tính theo xây dựng mới: 41.898.000 đồng;
+ Giá trị thiệt hại xác định theo giá trị còn lại của công trình thời điểm ngày 07/08/2025 là: 40.503.000 đồng (Bốn mươi triệu, năm trăm lẻ ba nghìn đồng).
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 544/KL-HĐĐGTS, ngày 12/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố H kết luận: Giá trị thiệt hại của công trình xây dựng tại nhà anh Phan Khắc T4 thời điểm ngày 07/08/2025 là: 39.503.000 đồng (Ba mươi chín triệu năm trăm lẻ ba nghìn đồng).
* Tại bản kết luận số: 09B/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố H kết luận:
+ Giá trị thiệt hại xe ô tô tải biển kiểm soát 75C-143.78 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông ngày 07/08/2025 là: 16.948.000 (mười sáu triệu chín trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
+ Giá trị thiệt hại xe mô tô biển kiểm soát: 43X7-0611 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông ngày 07/08/2025 là: 1.523.000 đ (Một triệu năm trăm hai mươi ba nghìn đồng).
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng:
- 01 (Một) xe ô tô tải nhãn hiệu MAZ, biển kiểm soát 75C-143.78, số khung RN1J1D227BT000042, số máy: A0404149, màu sơn: Cam, đã qua sử dụng;
- 01 (Một) giấy đăng ký xe, ô tô số: 75000788 mang tên Đỗ Đại D;
- 01 (Một) giấy chứng nhận kiếm định ATKT xe ô tô tải nhãn hiệu MAZ, biển kiểm soát 75C-143.78 thời hạn đến 17/10/2025;
- 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số 0207243 của xe ô tô 75C-143.78;
Các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đỗ Đại D.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 43X7-0611, số khung RLHJF18018Y797403, số máy: JF18E5405595, màu sơn: Xanh
- đen, đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã xử lý bằng hình thức trả lại cho anh Nguyễn Cửu T3 (là đại diện theo ủy quyền của người bị hại).
- 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số: 460180010947 mang tên Hoàng Công M;
- 01 (Một) gói niêm phong ghi "Camera 07082025" bên trong có 01 (một) đĩa DVD - R chứa video thu từ camera nhà anh Phan Khắc T4.
Các vật chứng trên hiện đang được lưu theo hồ sơ vụ án hình sự.
* Về dân sự: Bị cáo Hoàng Công M và anh Đỗ Đại D (chủ sở hữu xe ô tô 75C-143.78) đã thỏa thuận với đại diện theo uỷ quyền của người bị hại là anh Nguyễn Cửu T3 về mức bồi thường là 220.000.000 đồng. Trong đó, anh D bồi thường số tiền 170.000.000 đồng và bị can M bồi thường 50.000.000 đồng. Hiện nay M đã bồi thường 50.000.000 đồng; anh D bồi thường 70.000.000 đồng.
Số tiền còn lại là 100.000.000 đồng, anh D cam kết sẽ bồi thường vào ngày 12/02/2025. Đại diện của bị hại đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Phan Khắc T4 cũng đã được Hoàng Công M và anh Đỗ Đại D khắc phục, sửa chữa lại hàng rào, xưởng mộc nên không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại cáo trạng số 96/CT – VKSKV1 ngày 31/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Huế truy tố bị cáo Hoàng Công M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Huế giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Công M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 65; Điều 101 của Bộ luật Hình đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Hoàng Công M từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Công M và anh Đỗ Đại D (chủ sở hữu xe ô tô 75C-143.78) đã thỏa thuận với đại diện theo uỷ quyền của người bị hại là anh Nguyễn Cửu T3 về mức bồi thường là 220.000.000 đồng. Trong đó, anh D bồi thường số tiền 170.000.000 đồng và bị can M bồi thường 50.000.000 đồng. Hiện nay M đã bồi thường 50.000.000 đồng; anh D bồi thường 70.000.000 đồng.
Vào ngày 13/02/2026, ông Đỗ Đại D đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Số tiền còn lại 60.000.000 đồng, ông Đỗ Đại D và người đại diện theo ủy quyền hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Cửu T3 tự nguyện thoả thuận ông Đỗ Đại D sẽ tiếp tục bồi thường số tiền còn lại vào ngày 10/4/2026. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của ông D và đại diện hợp pháp của gia đình bị hại.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Phan Khắc T4 cũng đã được Hoàng Công M và anh Đỗ Đại D khắc phục, sửa chữa lại hàng rào, xưởng mộc nên không có yêu cầu gì về dân sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số: 460180010947 mang tên Hoàng Công M cho bị cáo Hoàng Công M.
- Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 (Một) gói niêm phong ghi "Camera 07082025" bên trong có 01 (một) đĩa DVD - R chứa video thu từ camera nhà anh Phan Khắc T4.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về án phí dân sự: Buộc ông Đỗ Đại D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 07/08/2025, Hoàng Công M (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 75C-143.78 lưu thông trên đường T theo hướng xã P đi xã P, thành phố H. Khi đi đến Km2+700, thuộc địa phận thôn L, xã P, chuẩn bị vào giao lộ với đường dân sinh ở bên trái và đường T ở bên phải theo hướng di chuyển. Do không chú ý quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát: 43X7-0611, do anh Nguyễn Cửu T2 điều khiển trên đường T, hướng từ phường H vào giao lộ theo chiều ngược lại dẫn đến tai nạn. Sau đó, xe ô tô do M điều khiển tiếp tục tông vào khu vực xưởng mộc nhà anh Phan Khắc T4 ở bên trái đường.
Hậu quả: anh Nguyễn Cửu T2 tử vong, Hoàng Công M bị thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể 63%, thiệt hại về phương tiện và tài sản là 41.023.000 đồng. Đây là vụ tai nạn có lỗi hỗn hợp do đó bị can Hoàng Công M phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Huế truy tố bị cáo Hoàng Công M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Hoàng Công M là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn. Bị cáo đã gây tai nạn, hậu quả gây thiệt hại là ông Nguyễn Cửu T2 chết. Nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Công M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường, khắc phục thiệt hại; bị hại cũng có một phần lỗi; đại diện bị hại đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Hoàng Công M lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo là cũng đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định và đang mang thương tích nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Công M và anh Đỗ Đại D (chủ sở hữu xe ô tô 75C-143.78) đã thỏa thuận với đại diện theo uỷ quyền của người bị hại là anh Nguyễn Cửu T3 về mức bồi thường là 220.000.000 đồng. Trong đó, anh D bồi thường số tiền 170.000.000 đồng và bị cáo M bồi thường 50.000.000 đồng. Hiện nay M đã bồi thường 50.000.000 đồng; anh D bồi thường 70.000.000 đồng. Vào ngày 13/02/2026, ông Đỗ Đại D đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại 40.000.000 đồng. Số tiền còn lại 60.000.000 đồng, tại phiên tòa ông Đỗ Đại D và người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị hại là ông Nguyễn Cửu T3 tự nguyện thỏa thuận ông Đỗ Đại D sẽ tiếp tục bồi thường số tiền còn lại vào ngày 10/4/2026. Đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị hại đồng ý và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Đỗ Đại D và đại diện hợp pháp của bị hại, không trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội nên cần được ghi nhận.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Phan Khắc T4 cũng đã được Hoàng Công M và anh Đỗ Đại D khắc phục, sửa chữa lại hàng rào, xưởng mộc nên không có yêu cầu gì về dân sự.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Đỗ Đại D 01 (Một) xe ô tô tải nhãn hiệu MAZ, biển kiểm soát 75C-143.78, số khung RN1J1D227BT000042, số máy: A0404149, màu sơn: Cam, đã qua sử dụng; 01 (Một) giấy đăng ký xe, ô tô số: 75000788 mang tên Đỗ Đại D; 01 (Một) giấy chứng nhận kiếm định ATKT xe ô tô tải nhãn hiệu MAZ, biển kiểm soát 75C-143.78 thời hạn đến 17/10/2025; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số 0207243 của xe ô tô 75C-143.78;Trả lại cho anh Nguyễn Cửu T3 (là đại diện theo ủy quyền của người bị hại) 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát 43X7-0611, số khung RLHJF18018Y797403, số máy: JF18E5405595, màu sơn: Xanh - đen, đã qua sử dụng là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số: 460180010947 mang tên Hoàng Công M là tài sản của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo;
Đối với 01 (Một) gói niêm phong ghi "Camera 07082025" bên trong có 01 (một) đĩa DVD - R chứa video thu từ camera nhà anh Phan Khắc T4 là vật chứng của vụ án nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Đại D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 60.000.000 đồng x 5%= 3.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Công M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Công M 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Công M cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự.
Công nhận sự thoả thuận của ông Đỗ Đại D và đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị hại là ông Nguyễn Cửu T3, buộc ông Đỗ Đại D phải tiếp tục bồi thường cho người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị hại số tiền còn lại là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (Đối với khoản tiền yêu cầu bồi thường) mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền nói trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số: 460180010947 mang tên Hoàng Công M cho bị cáo Hoàng Công M.
- Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 (Một) gói niêm phong ghi "Camera 07082025" bên trong có 01 (một) đĩa DVD - R chứa video thu từ camera nhà anh Phan Khắc T4.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Công M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Đỗ Đại D phải chịu 3.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.