- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Thị T - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:56/2026/HS-ST Ngày 14-05-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ninh Văn Trung
2. Bà Vũ Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngân- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Chinh- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 04 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 04 năm 2026, đối với bị cáo:
Hoàng Thị T, sinh năm 1971 tại xã L, tỉnh Bắc Ninh. Nơi cư trú: Thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S và bà Hoàng Thị Y (đều đã chết); có chồng, 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/5/2025 Công an xã L, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định xử phạt hành chính số: 05/QĐ-XPHC đối với Hoàng Thị T về hành vi “Đánh bạc’, phạt tiền 1.500.000 đồng. Đã nộp phạt ngày 09/05/2025; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện tại ngoại (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nông Thị C sinh năm 1968
Địa chỉ: Thôn N, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
3. Chị Tạ Thị X, sinh năm 1981
Địa chỉ: Thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hoàng Thị T, sinh năm 1971, trú tại thôn K, xã L, tỉnh Bắc Ninh có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc. Khoảng 10 giờ ngày 04/02/2026, Hoàng Thị T đi từ nhà mình đến chợ Kiên Thành thuộc xã L, tỉnh Bắc Ninh để ăn sáng thì xe của T bị hỏng phải mang đi sửa. Quá trình sửa xe T gặp Nông Thị C, sinh năm 1968, trú tại thôn N, xã L, tỉnh Bắc Ninh, C rủ T đến nhà Nguyễn Thị P, sinh năm 1963, trú tại thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh để ăn lẩu thì T đồng ý. C điều khiến xe mô tô của mình chở T đến nhà P. Tại nhà P, sau khi T, C, P ăn uống xong, khoảng 13 giờ cùng ngày thì có Tạ Thị X, sinh năm 1981, trú tại thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh đến chơi. Các đối tượng ngồi nói chuyện với nhau thì có người nói "hay là chơi một tý" nhưng không rõ là ai nói, các đối tượng đều hiểu là đánh bạc thắng thua bằng tiền thì tất cả đã đồng ý. P bảo mọi người vào trong phòng ngủ của P để cùng nhau đánh bạc thì mọi người đồng ý. Khi mọi người vào trong phòng ngủ thì P lấy bộ bài có sẵn ở nhà của mình mang ra để chơi rồi cùng nhau ngồi lên giường sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân để đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm thắng thua bằng tiền. Các đối tượng đánh bạc đến 14 giờ 00 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an xã L phát hiện bắt quả tang, thu giữ các tang vật gồm: Thu trên chiếu bạc số tiền 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng); 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân; số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) do Tạ Thị X giao nộp; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DURAB, biển kiểm soát 98Y2-5448, màu nâu của Nông Thị C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu xanh của Hoàng Thị T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3X, màu hồng của Nguyễn Thị P; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A12, màu xanh của Nông Thị C.
Hình thức đánh bạc các đối tượng thoả thuận cụ thể như sau: Các đối tượng đánh bạc sử dụng một bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để đánh bạc, sẽ có một người chia bài (là người thắng ván bạc trước), chia mỗi người chơi 9 lá bài và người chia bài sẽ được 10 lá bài. Tất cả lá bài còn lại gồm 15 lá bài đặt ở chiếu bạc mục đích để rút bài đánh của các vòng tiếp theo. Bắt đầu ván chơi, khi lên bài nếu không có ai ù trên tay thì người chia bài là người thắng trong ván trước đó (trừ ván đầu tiên) có 10 lá sẽ là người đánh đầu tiên, đánh theo vòng từ phải sang trái. Người đầu tiên sẽ đánh ra một lá bài bất kỳ. Người tiếp theo sẽ ăn lá bài đó nếu lá bài hợp với các lá bài đang có trên tay người này tạo thành phỏm; nếu không ăn thì bốc một lá bài trong số bài còn lại đặt ở giữa chiếu bạc và tiếp tục đánh theo vòng. Nếu ăn được một lá bài, các lá bài đã dánh của mỗi người sẽ được di chuyển sang phần bài đánh của người khác, sao cho số lá bài đánh xuống sẽ bằng nhau theo lượt đánh. Sau khi ăn hoặc bốc bài, người chơi dánh ra một lá bài. Người tiếp theo có thể ăn lá bài hoặc bốc bài ở giữa. Cứ như vậy lần lượt đánh theo vòng với 4 vòng thì kết thúc ván bạc hoặc đến khi có một người chơi ù, bài ù có thể ù trên tay hoặc ù vòng 1,2,3,4 (ù tức là trên bài có đủ phòm). Bắt đầu nếu trong quá trình đánh không có ai ù thì tiếp tục vòng 1, 2, 3 đến vòng thứ 4 nều có người đánh bài mà bị người khác ăn lá bài đó thì gọi là ăn chốt. Khi kết thúc ván bạc nếu không có ai ù thì người chơi phải hạ phỏm và giữ lại các lá bài trên tay để tính điểm. Sau khi tất cả người chơi đã hạ hết phỏm, tính điểm để quyết định người thắng. Người có điểm thấp nhất là người thắng thua ván đó. Cách tính điểm của ván bạc như sau: các quân bài A, J, Q, K được tinh điểm lần lượt là 1, 11, 12, 13. Các lá bài khác có điểm tương đương số trong lá bài đó. Nếu có người cùng điểm số, ai hạ bài trước thì người đó thắng từng ván cụ thể đó. Từ số điểm và thứ tự hạ bài để quyết định thứ tự về nhất, nhì, ba, tư của người chơi. Quá trình đánh bạc các đối tượng quy ước nếu ván bạc có người ù thì những người chơi còn lại mỗi người bỏ ra 20.000 đồng cho người ù. Nếu tính điểm thì người về nhì phải bỏ ra 5.000 đồng cho người nhất, lần lượt người về thứ ba phải bỏ ra 10.000 đồng và người về tư phải bỏ 15.000 đồng. Ngoài ra trong ván bạc nếu ai bị chốt thì phải bỏ ra 15.000 đồng cho người ăn chốt, nếu không có phỏm nào thì gọi là cháy và phải bỏ ra 15.000 đồng cho người về nhất.
Về số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc, các đối tượng khai nhận như sau: Nguyễn Thị P khai: Khi tham gia đánh bạc P có 300.000 đồng để tham gia đánh bạc; khi bị phát hiện P đang hòa và bỏ T bộ số tiền xuống chiếu bạc. Tạ Thị X khai: Khi tham gia đánh bạc X mang 2.500.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng vào mục đích đánh bạc, số tiền còn lại để trả nợ, không sử dụng đánh bạc; khi bị phát hiện X đang hòa tiền, số tiền bỏ ra để trên chiếu bạc. Hoàng Thị T khai: Khi tham gia đánh bạc T có 200.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc; khi bị phát hiện T thắng được khoảng 100.000 đồng và để T bộ số tiền tại chiếu bạc. Nông Thị C khai: Khi tham gia đánh bạc C có 200.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; khi bị phát hiện C đã thua hết.
Đối với 01 (một) xe mô tô của Nông Thị C; 02 (hai) chiếc điện thoại của Nguyễn Thị P, Nông Thị C; số tiền 2.000.000 đồng của Tạ Thị X quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 13/02/2026, Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.
Về vật chứng gồm: số tiền 1.180.00 đồng (một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng); 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu xanh, số IMEL 1: 861560045039394, số IMEL 2: 8615600045039386 chuyển đến Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 5 – Bắc Ninh để xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 13/04/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Bắc Ninh truy tố bị cáo Hoàng Thị T về “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Bắc Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Hoàng Thị T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, về “Tội đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng); tịch thu tiêu hủy 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ; trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu xanh, số IMEL 1: 861560045039394, số IMEL 2: 8615600045039386.
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị T đã khai nhận T bộ hành vi như đã nêu ở trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Thị T đã có tiền sự về hành vi đánh bạc. Khoảng 13 giờ ngày 04/02/2026, Hoàng Thị T cùng Nông Thị C, Nguyễn Thị P, Tạ Thị X có hành đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm cá cược được thua bằng tiền tại nhà của Nguyễn Thị P ở thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
. Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, hành vi của bị cáo Hoàng Thị T đã đủ yếu tố cấu thành “Tội đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, quản lý hành chính của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm như trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản...Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về nhân thân: Ngày 07/5/2025, bị cáo bị Công an xã L, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” số: 05/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo không lấy đây làm bài học kinh nghiệm để rèn luyện, tu dưỡng bản thân, tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật.
. Từ những phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Xử phạt tù bị cáo với mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Bắc Ninh đề nghị là có căn cứ.
. Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 triệu đồng đến 50.000.000 triệu đồng”, nên ngoài hình phạt chính là phạt tù cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
. Đối với Nông Thị C, Tạ Thị X, Nguyễn Thị P đã có hành vi đánh bạc với tổng số tiền là 1.180.000 đồng; các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên chưa cấu thành “Tội đánh bạc” quy định tại điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 10/02/2026 Công an xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị P về hành vi “Đánh bạc trái phép và dùng nhà ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc”, đối với Nông Thị C và Tạ Thị X về hành vi “Đánh bạc trái phép” là có cơ sở.
. Về vật chứng: Số tiền 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) bị cáo cùng các đối tượng sử dụng đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ là dụng cự các đối tượng cùng bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu xanh, số IMEL 1: 861560045039394, số IMEL 2: 8615600045039386 của bị cáo không liên đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phạm tội nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị T 07 (bẩy) tháng tù, về “Tội đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị đi chấp hành án.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng); tịch thu tiêu hủy 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ; trả lại bị cáo Hoàng Thị T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu xanh, số IMEL 1: 861560045039394, số IMEL 2: 8615600045039386.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngay, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - VKSND khu vực 5- Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; - Phòng HSNV Công an tỉnh Bắc Ninh; - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh; - Những người TGTT vắng mặt; - Lưu hồ sơ vụ án, v/p. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huân |