- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Xử phạt bị cáo: VŨ KHÁNH D 09 (Chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2026/HS-ST Ngày : 27/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Lan
2. Bà Trần Hoàng Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Trần Thanh Bình – Thư ký tòa án nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Chiến - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 364/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2026/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. VŨ KHÁNH D; sinh ngày 26/7/1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: đường T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là đường T, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Quốc T, sinh năm 1968 và bà: Đỗ Mỹ H, sinh năm 1972; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 07/9/2024 (Có mặt).
2. VÕ SONG N; sinh ngày 20/10/1997 tại Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: Số nhà Q, Tổ W, ấp E, xã R, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là Số nhà Q, Tổ W, ấp E, xã R, tỉnh Đồng Tháp); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Thành Nh, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1979; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 06/9/2024 (Có mặt).
3. ĐÀO BÁ K, sinh ngày 15/12/2000 tại Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: ấp K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau); Nghề nghiệp: phục vụ quán ăn; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đào Văn H, sinh năm 1966 và bà: Nguyễn Thị Nh2, sinh năm 1970; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 06/9/2024 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 06/9/2024, Tổ tuần tra 363 Công an quận Tân Bình kiểm tra, phát hiện Vũ Khánh D dương tính với ma túy đá nên mời về làm việc. Qua làm việc, D thừa nhận mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Võ Song N, Đào Bá K và Dương Thị Trúc P tại phòng 201 khách sạn Hoàng Anh Anh, địa chỉ số D Bàu Cát, Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nên đã tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Tiến hành truy xét, vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 06/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối với Võ Song N, Đào Bá K về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại phòng 205 khách sạn Hoàng Anh Anh. Thu giữ trên bàn gỗ trong phòng 205 gồm có: 01 cái bóp màu nâu bên trong có chứa 02 gói nylon do N tự nguyện giao nộp, bên trong 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy đã mua từ Vũ Khánh D với mục đích sử dụng, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9827 gam, loại Methamphetamine (Kết luận giám định số 10534/KL-KTHS ngày 15/9/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh); 01 bình nhựa có gắn một ống hút bằng nhựa; 01 nỏ thuỷ tinh không chứa gì; 01 bật lửa; 04 gói nylon không chứa gì và 01 cân điện tử.
Quá trình điều tra, Vũ Khánh D, Võ Song N, Đào Bá K khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Vào trưa ngày 31/08/2024, Vũ Khánh D và bạn gái Dương Thị Trúc P đến khách sạn Hoàng Anh Anh, địa chỉ số D Bàu Cát 7, Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thuê phòng 201, D là người thuê và trả tiền phòng. Đến ngày 01/9/2024, D và Phương chuyển sang Phòng 401. Lúc này, D nhìn thấy Võ Song N và bạn của N là Đào Bá K ở cùng khách sạn Hoàng Anh Anh. N biết D đã từng sử dụng ma túy trước đó nên N hỏi D có ma túy không để bán cho N. Lúc này, D nảy sinh ý định bán ma túy đá cho N với mục đích kiếm lời nên D đồng ý.
Thông qua mạng xã hội, D biết nam thanh niên tên A Phát (chưa rõ lai lịch) bán ma túy đá. Vào trưa ngày 01/9/2024, D sử dụng số thuê bao 0908058835 liên lạc số điện thoại 0585907825 mua 1.100.000 đồng ma túy đá (25 số, không rõ khối lượng) của A P1. D cung cấp cho A Ph3 địa chỉ tại khách sạn Hoàng Anh Anh. A P1 đến khách sạn trên thì liên lạc với D. Sau đó, D dẫn Phát vào cầu thang bộ lầu 1 để giao dịch ma túy đá. A Ph3 đưa cho D 01 gói nylon, bên trong chứa 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy đá và D trả 1.100.000 đồng trong đó 400.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 700.000 đồng đến tài khoản mà A Ph3 cung cấp bằng hình thức quét mã QR. Sau khi mua ma túy, D vào Phòng 201 chia 02 gói nylon chứa ma túy đá trên thành 04 gói nylon nhỏ hơn để sử dụng và bán cho N cụ thể như sau:
Lần 1: D lúc này đã chuyển từ phòng 201 sang phòng 401 vào ngày 01/9/2024, một mình trong phòng 401 bán 01 gói chứa ma túy đá cho N với giá 350.000 đồng và N thanh toán bằng tiền mặt vào trưa ngày 01/9/2024.
Vào trưa ngày 02/9/2024, D lấy một ít ma túy đá sử dụng một mình tại Phòng 401 khách sạn Hoàng Anh Anh, còn nỏ thủy tinh thì D nhặt được trong Phòng 401 (không rõ của ai).
Đến trưa ngày 03/9/2024, D vẫn còn cất giấu 03 gói nylon chứa ma túy đá trong người nhưng nghĩ rằng N còn mua thêm nên tiếp tục liên lạc với A Phát mua 1.100.000 đồng ma túy đá. Khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, A P1 đến Phòng 401 khách sạn Hoàng Anh Anh giao cho D 01 gói nylon chứa ma túy (không rõ khối lượng) nhưng D chưa trả tiền.
Lần 2: Vào chiều ngày 04/9/2024, D bán 01 gói nylon chứa ma túy để cho N với giá 350.000 đồng (không rõ khối lượng) trước Phòng 302 khách sạn Hoàng Anh Anh. N trả tiền mua ma túy cho D bằng cách chuyển 350.000 đồng tiền mua ma túy đến tài khoản số 0908058835, ngân hàng Quân Đội (MB) của D.
Lần 3: Đến khoảng 16 giờ 40 phút ngày 05/9/2024, D tiếp tục bán 01 gói nylon chứa ma túy đá (không rõ khối lượng) cho N với giá 350.000 đồng tại Phòng 401 khách sạn Hoàng Anh Anh và N thanh toán 350.000 đồng bằng tiền mặt cho D. Sau đó, D chuyển từ Phòng 401 lên Phòng 501 một mình sử dụng ma túy.
Lần 4: Vào khoảng 22 giờ 50 phút ngày 05/9/2024, D bán 01 gói nylon chứa ma túy đá (không rõ khối lượng) cho N với giá 700.000 đồng tại Phòng 202 khách sạn Hoàng Anh Anh, do K thuê. N đã trả cho D 700.000 đồng bằng tiền mặt, lúc này trong phòng không có Kh. Sau đó, khi Phương thông báo đến ở cùng nên D chuyển sang Phòng 501 khách sạn Hoàng Anh Anh.
Lần 5: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/9/2024, D bán cho N 700.000 đồng ma tuý đá (không rõ khối lượng) tại Phòng 202 khách sạn Hoàng Anh Anh. N chưa trả cho D 700.000 đồng tiền mua ma túy đá. Lúc này trong phòng còn có Kh. Sau khi bán ma túy cho N, D quay về Phòng 501 thì nhìn thấy Phương đang ở trong phòng, D lấy một số ma túy đá còn lại để vào nỏ thủy tinh rồi đốt và hút vào cơ thể thông qua ống hút. D vừa hút được 02 hơi thì Ph tự lấy sử dụng nhưng D không ngăn cản và đồng ý cho P sử dụng. Khi P hút vài hơi (không nhớ bao nhiêu lần) thì cơ thể mệt nên đi ngủ và đặt bình chứa ma túy đá về vị trí cũ. Còn D hút hết số ma túy đá trong nỏ thủy tinh thì nghỉ ngơi tại Phòng 501.
Khoảng 22 giờ ngày 06/9/2024, tại phòng 205 khách sạn Hoàng Anh Anh, P hỏi N còn ma túy hay không. N lấy ma túy đá được cất giấu trong 01 cái bóp màu nâu để vào trong nỏ thủy tinh được gắn sẵn vào bình nhựa có ống hút. Sau đó, N dùng bật lửa đốt nỏ thủy tinh chứa ma túy đá và đưa cho P hút 2-3 hơi rồi đặt xuống bàn. N và K cũng lần lượt lấy nỏ lên hút 2-3 hơi rồi đặt xuống bàn cho đến khi hết số ma túy trong nỏ. Sau đó, bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng của vụ án.
Quá trình điều tra và hỏi cung Vũ Khánh D, Võ Song N, Đào Bá K thừa nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của mình như trên, khai nhận phù hợp lời khai của D , N, K, P với vật chứng thu giữ, biên bản đối chất, nhận dạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kết quả xét nghiệm ma tuý, Vũ Khánh D, Võ Song N, Đào Bá K, Dương Thị Trúc P có kết quả dương tính ma túy đá (MET).
Vật chứng vụ án:
- Thu giữ của Vũ Khánh D:
+ 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave mang biển số 59E1 – 302.35, số khung: không tìm thấy, số máy: HC12E-3305688. D sử dụng xe vào việc mua bán ma túy. Qua xác minh, xe máy biển số 59E1- 302.25 là xe YAMAHA NOUVO màu trắng đen, chủ sở hữu xe gắn máy trên là chị Nguyễn Hoàng Phi H. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, ghi lời khai chị Nguyễn Hoàng Phi H vẫn đang quản lý sử dụng xe.
+ 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng, số thuê bao: 0908058835, ΙΜΕΙ: 356711083838930, MEID: 35671108383893 có Zalo và Facebook tên “Bin”. Qua kiểm tra, trong điện thoại ghi nhận thông tin về việc mua bán ma túy.
Thu giữ của Võ Song N:
+ 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9827 gam, loại Methamphetamine.
+ 01 bình nhựa gắn ống hút; 02 nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử, 01 cái bóp màu nâu; 01 bật lửa.
+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh đã bị bể màn hình, số thuê bao 0777797605, mật khẩu 140317. Qua kiểm tra, trong điện thoại ghi nhận thông tin về việc mua bán ma túy.
- Thu giữ của Đào Bá K:
+ 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi A3 mặt lưng màu xanh dương đã bị bể mặt lưng. Qua kiểm tra, không ghi nhận dữ liệu gì.
- 01 DVD ghi lời khai, có ghi âm, ghi hình (lưu kèm hồ sơ vụ án).
Đối với đối tượng bán ma túy cho D, hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch nên chưa có cơ sở xem xét xử lý.
Đối với Dương Thị Trúc P là người tham gia sử dụng ma túy, không cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy, không giúp sức đưa ma túy trái phép vào cơ thể người khác và chưa có tiền án, tiền sự. Cơ quan điều tra bàn giao cho Công an Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sờ cai nghiện bắt buộc.
Tại bản cáo trạng số 63/CT –VKS – KV4 ngày 27 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vũ Khánh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Võ Song N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Đào Bá K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh nêu tóm tắt nội dung vụ án, các N nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Vũ khánh D từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 2 tội từ 12 năm đến 13 năm tù. Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Song N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 2 tội từ 11 năm đến 12 năm tù. Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Bá K từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Về vật chứng, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận, không bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Vũ Khánh D, Võ Song N, Đào Bá K, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Khánh D đã có hành vi nhiều lần bán ma túy cho bị cáo Võ Song N vào các ngày 01/9/2024 với giá 350.000 đồng, ngày 04/9/2024 với giá 350.000 đồng, ngày 05/9/2024 với giá 1.050.000 đồng, ngày 06/9/2024 với giá 700.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo D còn có hành vi tổ chức cho Ph sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 06/9/2024 tại phòng 501 khách sạn Hoàng Anh Anh. Hành vi của bị cáo Vũ Khánh D thực hiện như nêu trên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Võ Song N có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy và cùng Kh sử dụng chung ma túy với nhau tại khách sạn Hoàng Anh Anh vào ngày 01/09/2024, ngày 04/09/2024, ngày 05/09/2024 và ngày 06/9/2024 N rủ Kh và Dương Thị Trúc P cùng sử dụng ma túy. Ngoài ra bị cáo N cất giữ 0,9827 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo Võ Song N thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Đào Bá K có hành vi cung cấp địa điểm, thuê phòng khách sạn để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Võ Song N tại khách sạn Hoàng Anh Anh vào các ngày 01/09/2024, ngày 04/09/2024, ngày 05/09/2024 và ngày 06/9/2024 cung cấp địa điểm cho Võ Song N và Dương Thị Trúc P cùng sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo Võ Song N đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng ma túy của các bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là N nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc mua bán ma tuý là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì tham lam, tư lợi, thoả mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện cho các bị cáo cai nghiện một cách triệt để, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tang vật vụ án:
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave mang biển số 59E1 – 302.35, số khung: không tìm thấy, số máy: HC12E-3305688. D sử dụng xe vào việc mua bán ma túy. Quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp nên cần giao cho cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sau 01 năm nếu không xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng, số thuê bao: 0908058835, ΙΜΕΙ: 356711083838930, MEID: 35671108383893; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh đã bị bể màn hình, số thuê bao 0777797605 các bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9827 gam, loại Methamphetamine là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 bình nhựa gắn ống hút, 02 nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử, 01 cái bóp màu nâu; 01 bật lửa là vật dụng sử dụng ma túy không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi A3 mặt lưng màu xanh dương đã bị bể mặt lưng, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Kh.
- Đối với số tiền 2.450.000 đồng bị cáo D bán ma túy cho bị cáo N là khoản thu lợi bất chính, buộc bị cáo nộp lại sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo VŨ KHÁNH D.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Song N.
- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đào Bá K.
- Căn cứ Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Xử phạt bị cáo: VŨ KHÁNH D 09 (Chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2024.
Xử phạt bị cáo: VÕ SONG N 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024.
Xử phạt bị cáo: ĐÀO BÁ K 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024.
[2] Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9827 gam, loại Methamphetamine; 01 bình nhựa gắn ống hút, 02 nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử, 01 cái bóp màu nâu; 01 bật lửa.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng, số thuê bao: 0908058835, ΙΜΕΙ: 356711083838930, MEID: 35671108383893; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh đã bị bể màn hình, số thuê bao 0777797605.
- Trả lại cho bị cáo Đào Bá K: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi A3 mặt lưng màu xanh dương đã bị bể mặt lưng.
- Giao 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave mang biển số 59E1 – 302.35, số khung: không tìm thấy, số máy: HC12E-3305688 cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sau 01 năm nếu không xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo Vũ Khánh D nộp lại số tiền 2.450.000 (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng sung ngân sách nhà nước.
Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 131/BB/2026 ngày 26/01/2026 của là Phòng Thi hành án dân sự khu vự 4 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - CQCSĐT Công an Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 4 – Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 4 – Tp. Hồ Chí Minh; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực Phú Thọ Hòa; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trương Ngọc Tâm |