- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2026/HS-PT Ngày: 18/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Trần Minh Long
Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Bà Trần Thị Bé
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Đức - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2026/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 90/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN THỊ H; tên gọi khác: Năm; sinh ngày 19 tháng 02 năm 1983 tại Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; nơi thường trú: Tổ C phường S, TP Đà Nẵng; nơi ơ: Khu F Khu đô thị A, phường Đ, TP Đà Nẵng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (SN: 1952), con bà Nguyễn Thị H2 (SN: 1954), gia đình có 07 anh chị em, bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 05/2023, bà Nguyễn Thị H (SN: 1983; trú tại: Khu F Khu đô thị A, phường Đ, TP Đà Nẵng) và ông MUHAMMAD NAJP BIN MUHAMMAD IBRAHIM (SN: 14/8/1967; Hộ chiếu số: K3417833D; Quốc tịch: Singapore; Tên gọi tắt là NAJIP) có mối quan hệ tình cảm với nhau và đã tự tổ chức đám cưới tại nơi cư trú nhưng chưa thực hiện các thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định.
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 30/6/2024, Nguyễn Thị Hồng điều K xe mô tô mang BKS: 43E1-693.99 chở theo sau là ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM đến nhà ông Nguyễn Văn H3 (SN: 1979; trú tại: tổ C, phường A, TP Đà Nẵng; là anh ruột H) tại Phòng 406 Chung cư C nhà C, phường S, TP Đà Nẵng để ăn uống, xem bóng đá cùng với ông Nguyễn Văn H1 (SN: 1952; trú tại: Khu F Khu đô thị A, phường Đ, TP Đà Nẵng; là cha ruột H). Quá trình ăn uống tại đây giữa ông H3, ông H1, bà H và ông N có sử dụng bia. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 01/7/2024, Nguyễn Thị Hồng điều K xe mô tô mang BKS: 43E1-693.99 chở ông N về lại nơi ở tại Khu F Khu đô thị A, phường Đ, TP Đà Nẵng theo lộ trình từ chung cư ra đường T - C với tốc độ khoảng 40-50km/h. Quá trình điều khiển xe, do ông N quá say không ngồi vững nên H dùng tay trái choàng ra sau giữ người và cho đầu ông N nằm lên vai trái, còn H lái xe bằng tay phải. Khi đi đến đoạn trước ngang trụ đèn chiếu sáng số CS91THĐ ND đường Chương Dương nối dài (đoạn đường cụt đang thi công) thuộc phường N, TP Đà Nẵng, H có quay mặt qua trái để nhìn ông N, không chú ý quan sát phía trước. Khi quay mặt lại, bị xìa bánh, tay lái H không vững nên loạng choạng ngã xuống đường và trượt dài tự tông vào bi giếng bê tông đang chắn ngang đường C, gây tai nạn cho bản thân và ông N. Hậu quả: Ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM tử vong tại chỗ, xe 43E1-693.99 hư hỏng nhẹ.
* Theo kết luận giám định tử thi số: 604/KLGĐTT-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng K1 Công an T, kết luận:
- Cơ thành chế hình thành các vết thương trên tử thi ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM phù hợp do tai nạn giao thông tạo ra.
- Nguyên nhân tử vong của ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM là đa chấn thương.
* Theo kết luận giám định số: 599/KL-KTHS ngày 29/7/2024 của Phòng K1 Công an T, kết luận: các dấu vết trên xe mô tô BKS: 43E1-693.99 hình thành phù hợp do xe mô tô ngã nghiêng sang trái xuống đường trượt theo hướng tiến của xe.
* Theo kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là tại trước trụ điện số CS91THĐ ND đường Chương Dương nối dài (đoạn đường cụt đang thi công) thuộc phường N, TP Đà Nẵng.
Nơi xảy ra vụ việc là tại phần đường phía Tây, tại đây có vật cản làm che khuất tầm nhìn, trên vỉa hè phía Tây có biển báo đường cụt, trên phần đường phía Tây có để nhiều thùng rác màu xanh và một số khối bê tông dạng hình tròn.
* Theo kết quả trích sao hồ sơ bệnh án đối với Nguyễn Thị H tại Bệnh viện Đ, thể hiện: Nồng độ cồn trong máu là 17.3 mmol/L tương ứng 79,7184 mg/100mL.
* Theo kết luận giám định số 1713/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng, kết luận:
- Trong mẫu máu ghi thu từ tử thi của ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM gửi giám định có tìm thấy E (cồn); nồng độ Ethanol là 231miligam/100 mililít.
- Trong mẫu máu ghi thu từ tử thi của ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM gửi giám định không tìm thấy các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của các chất ma túy.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng đã quyết định.
Căn cứ: Điểm b Khoản 2, Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị H 01 (Một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 22/12/2025, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Thị H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận, giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
+ Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H theo đúng trình tự thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.
+ Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Vi phạm quy định về giao tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, hậu quả của vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, và nhân thân của bị cáo, xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù là phù hợp, không nặng. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới; do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 01/7/2024, Nguyễn Thị Hồng điều K xe mô tô BKS: 43E1-693.99, chở phía sau là ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM, trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu ở mức 79,7184 mg/100ml, vượt quá mức cho phép theo quy định pháp luật. Trong quá trình tham gia giao thông, bị cáo không chú ý quan sát, chỉ dùng một tay lái xe không đảm bảo an toàn nên tự tông vào bi bê tông chắn ngang đường, gây tai nạn làm ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã vi phạm quy định tại khoản 8, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008; khoản 6 Điều 5 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 gây hậu quả chết người. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét đơn kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, không những đã xâm phạm đến các quy định của Luật giao thông đường bộ và Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm chết 1 người. Bị cáo được đào tạo và được cấp giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, nhận thức rõ việc điều khiển phương tiện xe mô tô tham gia giao thông đường bộ trong tình trạng có sử dụng rượu bia mà nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở vượt quá mức quy định là trái với quy định của pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều khiển xe tham gia giao thông nhưng không chú ý quan sát, chỉ dùng một tay lái xe, tay còn lại ôm giữ người ngồi sau xe là không đảm bảo an toàn dẫn đến xe do bị cáo điều khiển tông vào bi bê tông chắn ngang đường, gây tai nạn hậu quả làm ông MUHAMMAD NAJIP BIN MUHAMMAD IBRAHIM ngồi phía sau xe tử vong tại chỗ; hậu quả của vụ án là nghiêm trọng, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.
Xét tội phạm bị cáo bị truy tố, xét xử có khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm tù; khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đã có xét đến nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo, xử phạt 01 năm tù là phù hợp, không nặng, đây chỉ là mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt liền kề. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ, tình tiết gì mới; mức án đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị H 01 (Một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 90/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV CATP ĐN; - VKSND khu vực 2 – Đà Nẵng; - CQCSĐT CA TP.ĐN; - TAND khu vực 2 – Đà Nẵng; - Phòng THADS khu vực 2– Đà Nẵng; - Thi hành án dân sự TP Đà Nẵng; - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các Thẩm phán Phan Vĩnh Chuyển Trần Thị Bé | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Long Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Minh Long |