vanban.org

Bản án 56/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 09/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ 04 (bốn) tháng 06 (sáu) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 12 năm 2024. Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Bá Đ ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá Đạt phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HSST
Ngày: 09-4-2025

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Cúc

Ông Lê Văn Mỳ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1993 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký thường trú: thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1962 và bà Lê Thị M, sinh năm 1964; Gia đình có bốn chị em, bị cáo là con thứ tư; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt theo lệnh truy nã ngày 05/12/2024, đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V - Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Anh Đ1, sinh năm 1999. Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994. Địa chỉ: tổ C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bá Đ và anh Nguyễn Anh Đ1 - sinh năm 1999 là bạn bè quen biết nhau từ trước. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 23/01/2022, Bá Đ đến phòng trọ của Nguyễn Anh Đ1 tại ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai hỏi mượn xe mô tô Yamaha Exciter màu đen, biển số 38D1-248.62 (xe của Nguyễn Anh Đ1) để đi công việc, Anh Đ1 đồng ý. Sau đó Bá Đ điều khiển xe mô tô 38D1-248.62 chở Nguyễn Anh Đ1 đến Công ty TNHH T1 thuộc ấp Ông H1, xã T, huyện V để A Đ1 đi làm, còn Bá Đ điều khiển xe đi công việc và hẹn chiều tối cùng ngày sẽ quay lại trả xe. Bá Đạt đến thành phố B tìm người quen mượn tiền trả nợ nhưng không được nên quay về và nảy sinh ý định mang xe mô tô cầm cố lấy tiền tiêu xài. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Bá Đ đem xe mô tô 38D1-248.62 đến tiệm C thuộc ấp E, xã T do bà Nguyễn Thị T là người quản lý liên hệ cầm cố xe cho người làm của bà T là anh Nguyễn Văn Đ2. Bà T và anh Đ2 không biết tài sản chiếm đoạt của người khác, nên đồng ý nhận cầm cố với giá 20.000.000 đồng. Đ nhận tiền và sử dụng trả nợ, tiêu xài cá nhân hết số tiền cầm xe và bỏ trốn.

Chiều tối cùng ngày, Anh Đ không thấy Bá Đ đem xe mô tô về trả như đã hẹn nên nhiều lần gọi điện thoại cho Bá Đ nhưng không liên lạc được. Ngày 28/02/2022, Anh Đ phát hiện xe mô tô Yamaha Exciter màu đen biển số 38D1-248.62 đang cầm cố tại tiệm cầm đồ HHN nên đến Công an xã T, huyện V trình báo tố giác hành vi chiếm đoạt xe.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSVC ngày 10/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Bá Đ về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 175; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù.

Trước khi mở phiên tòa gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Nguyễn Thị T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nên cần buộc bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 23/01/2022 bị cáo Nguyễn Bá Đ đến phòng trọ của anh Nguyễn Anh Đ1 hỏi mượn xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển số 38D1-248.62 để đi công việc. Sau khi bị cáo chở anh Đ1 đến công ty thì điều khiển xe mô tô trên đến thành phố B tìm người quen mượn tiền trả nợ nhưng không được nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô trên. Bị cáo điều khiển xe đến tiệm C thuộc ấp E, xã T do bà Nguyễn Thị T làm chủ cầm cố xe mô tô trên lấy số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để trả nợ và tiêu xài cá nhân rồi bỏ trốn. Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-ĐGTS ngày 10/3/2022 xác định xe mô tô trên có trị giá 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt đủ nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho chủ tiệm cầm đồ là bà Nguyễn Thị T; bị hại anh Nguyễn Anh Đ1 đã nhận lại tài sản và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Nguyễn Anh Đ1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét, giải quyết.

Chủ tiệm cầm đồ bà Nguyễn Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Trước khi mở phiên tòa gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), tại phiên tòa bị cáo đồng ý tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) còn lại cho bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị T chủ tiệm cầm đồ HHN và anh Nguyễn Văn Đ2 nhân viên tiệm cầm đồ không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu về tội danh, xử lý vật chứng và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 5, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ 04 (bốn) tháng 06 (sáu) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 12 năm 2024.

Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Bá Đ ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Bá Đ có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị T số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Giao cho bà Nguyễn Thị T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0004433 ngày 09/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo Nguyễn Bá Đ tiếp tục có trách nhiệm bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cho bà Nguyễn Thị T.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ