- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đăng Minh C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2025/ HS-ST Ngày 02 - 4- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Phụng
2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên Tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên Tòa: Bà Ngô Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2025/TLST - HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với: Bị cáo Đặng Minh C, sinh ngày 27/8/1974 tại Nam Định. Nơi cư trú: Xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Huy N (đã chết) và bà Ngô Thị H; vợ: Đỗ Thị H1, có 01 con, sinh năm 2012; nhân thân: Tốt. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/01/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
* Bị hại: Ông Trần Văn T, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Mai Thị N1, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình là vợ của bị hại (vắng mặt);
2. Anh Trần Văn G, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình là con của bị hại (có mặt);
3. Chị Trần Thị L, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Xóm G, thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình là con của bị hại (vắng mặt);
4. Chị Trần Thị H2, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình là con của bị hại (vắng mặt);
Đại diện theo ủy quyền của bà N1, chị L, chị H2 là anh Trần Văn G, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình là con của bị hại (có mặt);
* Người làm chứng: Ông Vũ Đình N2, sinh năm 1959.
Nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ ngày 03/9/2024, Đặng Minh C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves, màu sơn đỏ - đen, biển số 18X1-2094 đi một mình từ nhà thuộc xã X, huyện X, tỉnh Nam Định để sang thị xã M, tỉnh Hưng Yên làm việc. Đến khoảng 05 giờ 43 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô đi đến đường vành đai phía Nam thuộc địa phận xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình hướng từ đường L đi cầu Quảng trường Thái Bình, mặt đường được chia thành 02 làn đường bên trong giáp bờ dải phân cách cứng có kích thước 4,75m, làn đường bên ngoài chân bờ dải phân cách cứng ở giữa đo 4,10m. Phân chia hai làn đường có vạch sơn trắng đứt quãng đo ngang 0,15m, trên lề đường bên phải chiều đi của C điều khiển có đặt biển báo W.205 (biển báo đường giao nhau). Thời điểm này trời sáng, không mưa, mặt đường khô ráo bằng phẳng, mật độ phương tiện tham gia giao thông bình thường. Châu quan sát đèn tín hiệu giao thông trên chiều đường đang di chuyển tại khu vực ngã tư giao đường H và đường tránh phía Nam ở chế độ đèn xanh nên C không giảm tốc độ mà điều khiển xe mô tô di chuyển với tốc độ khoảng 40-50km/h để đi vào ngã tư. Lúc này trên đường H hướng từ Cầu K đi thành phố T có một xe máy điện không đeo biển số do ông Trần Văn T, sinh năm 1958, trú tại thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình điều khiển đang đi đến. Thời điểm này đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư giao đường H và đường tránh phía Nam trên chiều đường ông T di chuyển ở chế độ đèn đỏ nhưng ông T không chấp hành báo hiệu đường bộ đã vượt đèn đỏ để đi vào ngã tư. Khi ông T điều khiển xe máy điện đi vào ngã tư thì xe mô tô do C điều khiển vẫn giữ nguyên tốc độ khoảng 40-50 km/h đi đến nên mặt ngoài phía bên phải may ơ bánh trước xe do C điều khiển đã va chạm với mặt lăn má lốp bánh trước bên trái xe máy điện do ông T điều khiển. Khi va chạm người và phương tiện đều bị đổ ra đường tạo ra vết cà xước trên mặt đường. Hậu quả: Ông T và C bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T, đến 04 giờ 30 phút ngày 04/9/2024 ông T tử vong tại gia đình do chấn thương sọ não/đa chấn thương.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 7721/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của V Bộ C2 kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trần Văn T qua hồ sơ là 13%;
* Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 7720/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của V Bộ C2 kết luận nguyên nhân chết của ông Trần Văn T: chấn thương sọ não/đa chấn thương;
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 41/KLTTCT-TTPY, ngày 13/02/2025 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Đặng Minh C tại thời điểm giám định là 31%;
* Kết luận giám định số 1474/KL-KTHS, ngày 14/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh của 02 (hai) tập tin (tệp) video gửi giám định. Diễn biến liên quan đến vụ tai nạn giao thông được trích xuất, mô tả trong Phụ lục kèm theo Kết luận giám định;
* Kết luận giám định số 1419/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tại thời điểm giám định, hàng chữ, chữ số đóng trên khung xe và thân máy xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đỏ đen biển số đăng ký 18X1 - 2094 không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại. Chữ, chữ số nguyên thủy đọc được là: Hàng chữ, chữ số khung RLHJC43169Y116180; hàng chữ, chữ số máy JC43E-0663447. Tại thời điểm giám định, hàng chữ, chữ số đóng trên khung xe và thân máy xe máy điện nhãn hiệu MOMENTUM, màu sơn đỏ đen không đeo biển số không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại. Chữ, chữ số nguyên thủy đọc được là: Hàng chữ, chữ số khung 885221507000434; hàng chữ, chữ số máy 150735517932;
* Kết quả kiểm tra, xét nghiệm nồng độ cồn: Căn cứ Công văn số 1313 ngày 05/9/2024 và công văn số 1345 ngày 11/9/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T phúc đáp về việc yêu cầu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu. Bệnh viện đa khoa tỉnh T trả lời như sau: Bệnh viện hết hóa chất để thực hiện xét nghiệm định lượng Ethanol. Do vậy Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định nồng độ cồn trong máu của ông Trần Văn T và bị cáo Đặng Minh C;
Tại bản cáo trạng số 55/CT- VKSTPTB ngày 11/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Đặng Minh C về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặng Văn C1 về tội danh và điều luật như bản cáo trạng số 55/CT- VKSTPTB ngày 11/3/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Minh C.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Minh C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đặng Minh C cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Minh C thỏa thuận bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà N1, anh G, chị L, chị H2 tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Xét sự thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên;
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Đặng Minh C một giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 330201005945 do Sở G1 cấp ngày 26/5/2020 mang tên Đặng Minh C.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội. Bị cáo Đặng Minh C nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không khiếu nại hay có ý kiến gì nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề do Phòng C3 Công an tỉnh T lập ngày 03/9/2024; biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ và bản ảnh hiện trường do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T lập ngày 03/9/2024 tại ngã tư T, thuộc địa phận tổ B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; biên bản xác định hiện trường do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập ngày 14/9/2024 tại ngã tư đường vành đai phía Nam giao đường H, thuộc địa phận tổ B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh khám nghiệm phương tiện do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập ngày 06/9/2024; biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi lập ngày 04/9/2024 tại gia đình nạn nhân tại thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; kết luận giám định tử thi số 1364/KLGĐTT-KTHS ngày 24/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 1. Các kết quả chính: Khám ngoài: Trên tử thi có các vết sây sát da, dập da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt và tay trái. Khám trong: Gia đình kiên quyết từ chối giải phẫu tử thi. 2. Kết luận: Do gia đình từ chối giải phẫu tử thi nên không đủ căn cứ để kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Trần Văn T; kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 7721/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của V Bộ C2 kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trần Văn T qua hồ sơ là 13%; Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 7720/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của V Bộ C2 kết luận nguyên nhân chết của ông Trần Văn T: chấn thương sọ não/đa chấn thương; kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 41/KLTTCT-TTPY, ngày 13/02/2025 của Trung tâm P kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Đặng Minh C tại thời điểm giám định là 31%; kết luận giám định số 1474/KL-KTHS, ngày 14/10/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh của 02 (hai) tập tin (tệp) video gửi giám định. Diễn biến liên quan đến vụ tai nạn giao thông được trích xuất, mô tả trong phụ lục kèm theo kết luận giám định; kết luận giám định số 1419/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tại thời điểm giám định, hàng chữ, chữ số đóng trên khung xe và thân máy xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu ssown đỏ đen đeo biển số đăng ký 18X1 - 2094 không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại. Chữ, chữ số nguyên thủy đọc được là: Hàng chữ, chữ số khung RLHJC43169Y116180; hàng chữ, chữ số máy JC43E-0663447. Tại thời điểm giám định, hàng chữ, chữ số đóng trên khung xe và thân máy xe máy điện nhãn hiệu MOMENTUM, màu sơn đỏ đen không đeo biển số không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại. Chữ, chữ số nguyên thủy đọc được là: Hàng chữ, chữ số khung 885221507000434; hàng chữ, chữ số máy 150735517932; kết quả kiểm tra, xét nghiệm nồng độ cồn: Căn cứ công văn số 1313 ngày 05/9/2024 và công văn số 1345 ngày 11/9/2024 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T phúc đáp về việc yêu cầu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu. Bệnh viện Đa khoa tỉnh T trả lời như sau: Bệnh viện hết hóa chất để thực hiện xét nghiệm định lượng ethanol. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định nồng độ cồn trong máu của ông Trần Văn T và bị cáo Đặng Minh C; lời khai của người làm chứng là ông Vũ Đình N2; lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại anh Trần Văn G, chị Trần Thị L, chị Trần Thị H2 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 43 phút, ngày 03/09/2024, Đặng Minh C (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves, màu sơn đỏ xám đen biển số 18X1-2094 đi trên đường vành đai phía Nam hướng từ đường L đi cầu Quảng trường Thái Bình. Khi C điều khiển xe đi đến ngã tư đường vành đai phía Nam giao đường H thuộc địa phận tổ B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào nơi giao nhau nên mặt ngoài phía bên phải may ơ bánh trước xe mô tô do C điều khiển đã va chạm với mặt lăn má lốp bánh trước bên trái xe máy điện không biển số do ông Trần Văn T điều khiển đi trên đường H hướng từ cầu K đi đường L. Hậu quả ông T bị thương được cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh T. Đến 04 giờ 30 phút ngày 04/9/2024 ông T tử vong tại gia đình do chấn thương sọ não/đa chấn thương. Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Minh C đã vi phạm khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008; khoản 3 Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G2 tương ứng khoản 28, Điều 9; điểm c khoản 2 Điều 11; điểm d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024; khoản 1 Điều 4 Thông tư 38/2024/TT-BGTVT ngày 15/11/2024 của Bộ G2. Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm: ….23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe: 1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo…Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G2 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ …3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận; Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ 2024. Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm....28. Hành vi khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ quy định tại Chương II của Luật này. Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ…2. Người tham gia giao thông đường bộ phải chấp hành báo hiệu đường bộ theo thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới như sau:…c) Biển báo hiệu đường bộ; Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe. 3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây: ...d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường hẹp, đường vòng, đường Q, đường đèo, dốc; Thông tư 38/2024/TT-BGTVT ngày 15/11/2024 của Bộ G2 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ: Điều 4. Nguyên tắc chấp hành quy định về tốc độ khai thác và khoảng cách an toàn khi điều khiển phương tiện trên đường bộ. 1. Khi tham gia giao thông trên đường bộ, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải chấp hành quy định về tốc độ khai thác và khoảng cách an toàn theo quy định tại Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ và cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người;…5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
. Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của của bị cáo: Bị cáo C điều khiển xe đi đến ngã tư đường vành đai phía Nam giao đường H thuộc địa phận tổ B, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào nơi giao nhau nên mặt ngoài phía bên phải may ơ bánh trước xe mô tô do C điều khiển đã va chạm với mặt lăn má lốp bánh trước bên trái xe máy điện không biển số do ông Trần Văn T điều khiển đi trên đường H hướng từ Cầu K đi đường L. Hậu quả ông T bị thương được cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T. Đến 04 giờ 30 phút ngày 04/9/2024 ông T tử vong tại gia đình do chấn thương sọ não/đa chấn thương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Minh C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Đặng Minh C về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Đặng Minh C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm là 20.000.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại; bị hại cũng có một phần lỗi là không chấp hành tín hiệu đèn giao thông, vượt đèn đỏ khi đi vào ngã tư; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có mẹ đẻ được tặng huy chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đặng Minh C, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng nên cần cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Minh C đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho đại diện hợp pháp của bị hại là bà Mai Thị N1, anh Trần Văn G, chị Trần Thị L và chị Trần Thị H2 tổng số tiền là 20.000.000 đồng, đại diện gia đình ông T đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường nào khác nên cần chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên.
. Về vật chứng của vụ án:
. Đối với một giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 330201005945 do Sở G1 cấp ngày 26/5/2020 mang tên Đặng Minh C, cần trả lại giấy phép lái xe trên cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu MOMENTUM màu sơn đỏ, đen không biển số, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Trần Văn T. Ông T mua lại chiếc xe trên của anh Trần Minh H3, sinh năm 2000, trú tại: Thôn K, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Đại diện gia đình ông T có đơn xin lại chiếc xe trên. Ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Văn G (con trai ông T) quản lý, anh G đã nhận lại xe, chiếc xe trên chỉ bị hư hỏng nhẹ nên anh G không yêu cầu yêu cầu, đề nghị gì nên không giải quyết.
. Đối với xe 01 mô tô nhãn hiệu Honda Waves, màu sơn đỏ xám đen biển số 18X1-2094, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Đặng Minh C. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo Đặng Minh C. Sau khi xảy ra tai nạn xe mô tô chỉ bị hư hỏng nhẹ, bị cáo C xác định chiếc xe đã cũ, giá trị thiệt hại không lớn nên không yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe trên và có đơn xin được nhận lại tài sản. Ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại những tài sản trên cho bị cáo Đặng Minh C là phù hợp.
. Về vấn đề khác trong vụ án: Đối với ông Trần Văn T, điều khiển xe máy điện nhãn hiệu MOMENTUM màu sơn đỏ, đen không biển số; không làm thủ tục sang tên khi mua xe máy điện; không chấp hành tín hiệu đèn giao thông, vượt đèn đỏ khi đi vào ngã tư nên đã vi phạm vào khoản 4, Điều 6 Thông tư số 58/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ C2 và điểm b, khoản 2, Điều 11 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên ông Trần Văn T đã chết nên Cơ quan điều tra không xử lý.
. Về án phí: Bị cáo Đặng Minh C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Minh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/4/2025.
Giao bị cáo Đặng Minh C cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận thỏa thuận bồi thường thiệt hại do tính mạng xâm phạm của bị cáo Đặng Minh C đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là bà Mai Thị N1, anh Trần Văn G, chị Trần Thị L và chị Trần Thị H2 tổng số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Hai bên đã giao nhận xong số tiền bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.
4. Về vật chứng: Trả lại một giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 330201005945 do Sở G1 cấp ngày 26/5/2020 mang tên Đặng Minh C cho bị cáo Đặng Minh C.
(Số vật chứng trên Cơ quan điều tra đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/3/2025).
5. Về án phí: Bị cáo Đặng Minh C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Minh C, anh G đều có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/4/2025). Bà N1, chị L và chị H2 đều vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Cơ sở giam giữ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |