vanban.org

Bản án 56/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 26/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn H 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 15/12/2024. Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-ST
Ngày 26/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Anh Vân

Ông Trần Đức Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - là thư ký Tòa án nhân dân quận B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43 /2025/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐ - ST ngày 12 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn H , sinh năm 2000; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn V, xã V, huyện B, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:07/12 Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Dương Ngọc L ; Con bà: Nguyễn Thị K; Vợ: Lù Thị L. Danh bản, chỉ bản số 15 lập ngày 24/12/2024 tại công an quận B; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 15/12/2024 . Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/12/2024, Dương Văn H sử dụng tài khoản Telegram “Dương H” để tìm mua ma túy về bán lại cho khách để kiếm lời. Sau đó, có tài khoản Telegram (H không nhớ tên và không rõ nhân thân lai lịch) đăng rao bán ma túy nên H vào hỏi mua 02 viên ma túy dạng Kẹo và nửa chỉ ma túy Ketamine thì người này đồng ý và báo giá 1.300.000 đồng. H cho số điện thoại 0382.279.179 và hẹn giao ma túy đến đầu ngõ 354 đường Trần Cung, phường C, quận B, Hà Nội. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, có số điện thoại gọi đến (H không nhớ số) báo H ra nhận hàng, H đi bộ ra nhận ma túy và đưa tiền mặt cho người giao hàng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào trong người. Đến khoảng 12 giờ 45 phút ngày 15/12/2024, một người đàn ông tên Tài (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo “Tuệ L” nhắn tin, gọi Zalo cho H để mua 02 viên ma túy dạng Kẹo và nửa chỉ ma túy Ketamine. H đồng ý bán và báo giá 2.300.000 đồng, người này đồng ý mua và gửi cho H địa chỉ nhận ma túy tại ngõ 9 Đặng Thùy Trâm, phường C, quận B, Thành phố H. Sau đó, H sử dụng xe máy điện Xanh SM, màu xanh lắp BKS: 29BL-019.03 đi đến đầu ngõ 9 Đặng Thùy Trâm. Khi đến nơi, H dừng xe gọi Zalo cho khách mua để giao ma túy thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận B phát hiện, kiểm tra. H tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an 01 bao thuốc lá sài gòn màu vàng bên trong có 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (4x6)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng kích thước (4x6)cm bên trong chứa 02 viên nén màu nâu. Tại chỗ, H khai nhận tinh thể trên là ma túy Ketamine và viên nén trên là ma túy dạng Kẹo (ma túy MDMA) đang bán cho khách thì bị bắt giữ. Sau đó, cơ quan công an lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật rồi dẫn giải H về trụ sở công an để đấu tranh làm rõ. (BL24-51, BL60-70, BL71-91)

- Thu giữ của Dương Văn H: (BL30)

+ 01 túi ni lông màu trắng kích thước (4x6)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng;

+ 01 túi ni lông màu trắng kích thước (4x6)cm bên trong chứa 02 viên nén màu nâu;

+ 01 vỏ bao thuốc lá sài gòn màu vàng, đã qua sử dụng;

+ 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS max, màu đen, lắp sim số thuê bao 0388.154.658 đã qua sử dụng;

+ 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Vinfast màu xanh, lắp BKS: 29BL-019.03 đã qua sử dụng;

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn H tại ngõ 354 Trần Cung, phường C, quận B, Thành phố H không phát hiện thu giữ thêm gì. (BL47)

Bản kết luận giám định số 8787 ngày 24/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP H kết luận: (BL36)

“- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 1,056 gam.

- 02 viên nén màu nâu bên trong 01 túi ni lông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 0,558 gam.”

Đối với người bán ma túy cho H, do H chỉ liên hệ với người bán qua mạng xã hội Telegram (không nhớ tên tài khoản và không rõ nhân thân lai lịch) nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra mở rộng.

Đối với người giao ma túy đến cho H tại đầu ngõ 354 đường Trần Cung, phường C, quận B, Thành phố H, do H thanh toán cho người này bằng tiền mặt và không nhớ số điện thoại nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra mở rộng.

Đối với người đàn ông tên Tài sử dụng tài khoản Zalo “Tuệ T” là người liên hệ mua ma túy của H, do không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra mở rộng.

Đối với chiếc xe máy điện kiểu dáng Vinfast màu xanh, lắp BKS: 29BL-019.03 tạm giữ của Dương Văn H, quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của Công ty cổ phần di chuyển xanh và thông minh GSM giao cho H để hoạt động điều khiển dịch vụ chở khách theo hợp đồng. Tại cơ quan điều tra, anh Nguyễn Đức Giang (SN: 1987, HKTT: xã N, huyện N, tỉnh N ) được Công ty cổ phần di chuyển xanh và thông minh GSM ủy quyền, trình bày: Ngày 25/7/2024, công ty có bàn giao xe máy điện trên cho H để hoạt động theo hợp đồng đã ký. Đến ngày 15/12/2024, H sử dụng chiếc xe máy điện trên để đi bán ma túy thì công ty và anh G không biết. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy điện trên là tài sản hợp pháp của Công ty cổ phần di chuyển xanh và thông minh GSM nên ngày 25/02/2025 cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng số 569 trả lại xe cho chủ sở hữu hợp pháp. (BL73-91)

Đối với số ma túy, 01 điện thoại và 01 vỏ bao thuốc lá thu giữ của H, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B chuyển đến cơ quan thi hành án để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Bản cáo trạng số 44/CT - VKSBTL ngày 28/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 42 tháng tù;

- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định, 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng;

Tịch thu sung công: 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xs màu đen đã qua sử dụng;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, rất hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm được đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm; Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khách quan khác, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tại khu vực đầu ngõ 9 Đặng Thùy Trâm, phường C, quận B, Thành phố H, Dương Văn H đã có hành vi cất giấu 1,056 g ma tuý loại Ketamin và 0,558gam loại ma túy MDMA nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời thì bị tổ công tác điều tra tội phạm về ma túy- Công an quận B phát hiện bắt giữ. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là chất gây nghiện, làm tổn hại đến sức khoẻ và là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh AIDS, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Đảng và Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo vẫn phạm tội với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo không tìm một công việc có thu nhập hợp pháp, chỉ vì lợi nhuận mà đã đi bán ma túy để hưởng lợi bất chính, đủ thấy thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, HĐXX cũng xem xét thái độ khai báo thành khẩn khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra xét xử để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Về tình tiết tăng nặng: Không

.Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

.Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ là vật cấm lưu hành, 01vỏ bao thuốc lá dùng để cất giấu ma túy nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động của bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy nên tịch thu sung công theo Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

.Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Căn cứ khoản 1 điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: Bị cáo Dương Văn H 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 15/12/2024.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

3. Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của đương sự Dương Văn H, cán bộ niêm phong Trần Tài Q và giám định viên Trần Ngọc C;

+ 01(một) vỏ bao thuốc lá Sài gòn màu vàng, đã qua sử dụng;

- Tịch thu sung công:

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS màu đen, đã qua sử dụng, lắp thuê bao 0388154658, không kiểm tra chất lượng bên trong, không lên nguồn, không kiểm tra số thuê bao. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 134/25 ngày 28/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân sự quận B)

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ