vanban.org

Bản án 56/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nông Hồng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Hồng T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nông Hồng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-ST
Ngày 03-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quang Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mã Thị Huệ.

Ông Nguyễn Văn Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nông Hồng T (tên gọi khác: không), sinh ngày 26 tháng 12 năm 1973 tại xã T, tỉnh Cao Bằng.

Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã T, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn T1 (đã chết) và bà Đàm Thị R, sinh năm 1946; vợ: Hoàng Thị T2, sinh năm 1978; con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 29/12/1993 bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 17 năm tù về tội Giết người.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 10 phút ngày 16/8/2025, tổ công tác Công an xã T làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc xóm Đ, xã T, tỉnh Cao Bằng phát hiện Nông Hồng T đang đứng ở ngoài đường bê tông, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra Nông Hồng T tự giác giao nộp 06 gói giấy trong đó có 04 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ và 02 gói giấy bạc màu vàng, bên 06 gói giấy đều chứa các cục chất bột màu trắng. T khai số chất bột màu trắng trên là ma túy, loại Heroine, mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số vật chứng nêu trên và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi Note 12 để điều tra, làm rõ.

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 16/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng tiến hành khám xét chỗ ở của Nông Hồng T phát hiện, thu giữ tại đầu giường ngủ của T: 03 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, 02 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 dao lam.

Hồi 21 giờ 00 phút cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng và các thành phần liên quan tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định. Kết quả vật chứng thu giữ của Nông Hồng T có khối lượng 0,67 gam.

Tại kết luận giám định số 422/KL-KTHS ngày 23/8/2025 của Phòng K, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Mẫu chất bột màu trắng, dạng cục lẫn bột bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine".

Tại cơ quan điều tra, Nông Hồng T khai: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2019, loại ma túy sử dụng là Heroine. Sáng 13/8/2025, T đi từ nhà đến xóm L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng mua ma túy với một người đàn ông không quen biết với số tiền 2.200.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, T đi về nhà, chia số ma túy mua được thành nhiều gói nhỏ. Chiều 16/8/2025, T đang đi bộ ở đường bê tông trong xóm thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ ma túy.

Vật chứng của vụ án đã được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng ban hành Quyết định chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng để đảm bảo việc xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật.

Hành vi của Nông Hồng T đã bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng số 12/CT-VKSKV3 ngày 06/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố Nông Hồng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nông Hồng T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận nội dung bản cáo trạng phản ánh đúng hành vi bị cáo thực hiện. Mục đích bị cáo mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Các mảnh giấy thu giữ tại nhà bị cáo, bị cáo dùng để gói ma túy, dao lam dùng để chia ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nông Hồng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Hồng T từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định, các mảnh giấy gói ma túy, 01 dao lam; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo: Xét lời khai bị cáo Nông Hồng T tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét chỗ ở, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng, như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 16/8/2025, tại đoạn đường bê tông thuộc xóm Đ, xã T, tỉnh Cao Bằng, Nông Hồng T bị tổ công tác Công an xã T, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang về hành vi tàng trữ 0,67 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Nông Hồng T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về nhân thân: Bị cáo Nông Hồng T là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu.

Ngày 29/12/1993 bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 17 năm tù về tội Giết người.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên cần được chấp nhận.

. Hình phạt bổ sung:

Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Việc xử lý vật chứng:

Vật chứng ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm, các mảnh giấy gói ma túy, 01 chiếc dao lam dùng để chia ma túy không có giá trị sử dụng thì tịch thu, tiêu hủy.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội.

. Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo bị bắt: Khi bị bắt bị cáo khai nhận mua ma túy với người đàn ông không quen biết. Quá trình điều tra không làm rõ được người bán ma túy cho bị cáo là ai. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.

. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nông Hồng T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Hồng T 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 16/8/2025.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: 01 dao lam, 05 mảnh giấy phát hiện thu giữ khi khám xét tại chỗ ở của Nông Hồng T ngày 16/8/2025, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng hình con dấu của UBND xã T.

+ 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: Số: 422/KL-KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Hồng Trung bắt ngày 16/8/2025. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong mẫu vật hoàn lại và đóng hình con dấu mực đỏ của Phòng K Công an tỉnh Cao Bằng.

+ 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: 06 mảnh giấy để gói các cục chất bột màu trắng phát hiện khi bắt quả tang đối với Nông Hồng T ngày 16/8/2025, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng hình con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng.

- Trả lại cho bị cáo Nông Hồng T: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi Note 12, số IMEI 1: 867510060857026, số IMEI 2: 867510060857034.

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 14 ngày 10 tháng 11 năm 2025.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nông Hồng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ