vanban.org

Bản án 56/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Trần Huỳnh G được ly hôn với ông Trần Văn H.

Về con chung: G cháu Trần Kỳ D, sinh ngày 07/01/2023 cho ông Trần Văn H tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Trần Huỳnh G có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Trần Kỳ D mà không ai được cản trở. Về án phí: Bà Trần Huỳnh G chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 18/02/2025, bà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần huỳnh G-Trần Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Trần Huỳnh G được ly hôn với ông Trần Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 5 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Trần Công Đẳng

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Huỳnh G, sinh năm 2002 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 9, xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện tại: Ấp C, xã L, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 9, xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Huỳnh G trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 22/3/2022 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm tôn trọng với nhau, thường xuyên xảy ra cự cãi, chung sống không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay. Hiện tại vợ chồng đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn lại được nên bà yêu cầu giải quyết ly hôn với ông H.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Trần Kỳ D, sinh ngày 07/01/2023. Hiện tại ông H đang nuôi dưỡng cháu D. Khi ly hôn bà đồng ý để cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng cháu D, bà không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung là không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Trần Văn H vắng mặt không có lý do, đối với nguyên đơn bà Trần Huỳnh G có đơn xin vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông H và bà G.

Về hôn nhân: Bà Trần Huỳnh G và ông Trần Văn H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 22/3/2022 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (đăng ký kết hôn tại nơi cư trú trước đây của bà G). Quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông H được xác lập hợp pháp, hai người tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống thời gian gần đây giữa bà G và ông H có phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm tôn trọng với nhau, thường xuyên xảy ra cự cãi, chung sống không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay là thực tế có diễn ra. Kể từ khi xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân đến nay mà hai bên không thể dàn xếp, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hai bên thoả thuận hàn gắn nhưng không có kết quả, do ông H không tham gia hòa giải và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà G. Từ những vấn đề nói trên, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho hai người được ly hôn là phù hợp. Vì vậy, bà G khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Bà G và ông H có một con chung là cháu Trần Kỳ D, sinh ngày 07/01/2023. Cháu D hiện chưa thành niên, ông H đang nuôi dưỡng cháu vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, cuộc sống của cháu đã ổn định, đồng thời bà G cũng đồng ý để cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng cháu. Do đó, G cháu D cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng. Bà G có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu D mà không ai được cản trở. Ông H không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không xét.

Về tài sản chung: Bà G và ông H không ai yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà G chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 18/02/2025, bà G nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí. Ông H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Bà Trần Huỳnh G được ly hôn với ông Trần Văn H.

Về con chung: G cháu Trần Kỳ D, sinh ngày 07/01/2023 cho ông Trần Văn H tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Trần Huỳnh G có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Trần Kỳ D mà không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Trần Huỳnh G chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 18/02/2025, bà Trần Huỳnh G nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006960 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Trần Huỳnh G và ông Trần Văn H vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ