vanban.org

Bản án 56/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: bị cáo Bùi Tú T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Xử phạt bị cáo Bùi Tú T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tú T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HSST
Ngày: 29/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Năm

Ông Huỳnh Phi Hổ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư ký TAND Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lam - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 804/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 08/01/2024, đối với:

- Bị cáo: Bùi Tú T. Giới tính: Nữ; Sinh năm 2002, tại Bạc Liêu; Nơi đăng ký thường trú: Ấp Khúc Tréo A, xã T, huyện G, tỉnhB; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật Giáo; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông Bùi Văn V, sinh năm 1967 (còn sống) và bà Trương Thị D, sinh năm 1974 (còn sống); Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai, chưa có chồng, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Bị hại: Anh Võ Thanh B, sinh năm 1976 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; Địa chỉ: Xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình

Đại diện theo ủy quyền của chị Liên: Bà Võ Thị M, sinh năm 1969; Địa chỉ thường trú: phường T, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Tú T không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định.

Khoảng 19 giờ 35 phút ngày 26/02/2023, Bùi Tú T điều khiển xe môtô biển số 94D1-598.53 (có dung tích xi lanh 125 cm3) lưu thông trên đường số 5 hướng từ cầu An Hảo đi về hướng đường Trần Quốc Toản. Khi đi đến ngã tư giao nhau với đường số 9 thuộc khu công nghiệp Biên Hòa 1, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, T điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái từ đường số 5 vào đường số 9. Do T điều khiển xe chuyển hướng không đảm bảo an toàn, thiếu chú ý quan sát và không nhường đường cho xe đang lưu thông trên phần đường ưu tiên nên đã để xe mô tô do T điều khiển va chạm với phần đầu xe mô tô biển số: 37Z6 - 2773 do anh Võ Thanh B điều khiển lưu thông trên đường số 5 theo hướng từ đường Trần Quốc Toản đi về hướng cầu An Hảo gây tai nạn. Hậu quả: Anh Võ Thanh B tử vong.

Quá trình điều tra, Bùi Tú T khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 26/02/2023 và biên bản dựng lại hiện trường ngày 04/04/2023 của Công an thành phố Biên Hòa, đã xác định: Hiện trường tai nạn là khu vực ngã tư giao nhau (đồng cấp) giữa đường số 5 và đường số 9 Khu Công nghiệp Biên Hoà 1, thuộc phường An Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Mặt đường số 5 rộng 12m40, lưu thông hai chiều, mặt đường số 9 rộng 14m00. Tất cả các dấu vết, kích thước đều được thu thập và đo vào vạch thẳng nối hai đầu mép lề đường bên phải của đường số 5 theo hướng từ đường Trần Quốc Toản đi về hướng cầu An Hảo làm chuẩn (gọi tắt là mép đường chuẩn). Lấy trụ điện số 476AB-472VT109 nằm bên phải đường số 5 theo hướng từ đường Trần Quốc Toản đi về cầu An Hảo là mốc (gọi tắt là cột mốc).

(1) Xe mô tô biển số 94D1-598.53 ngã nghiêng bên phải sau tai nạn, đầu xe quay hướng ra cầu An Hảo, đuôi xe hướng đường Trần Quốc Toản, tâm trục bánh trước xe cách cột mốc là 09m30 và cách mép đường chuẩn 01m10, tâm trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn là 01m00.

(2) Xe mô tô 37Z6-2773 nằm ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng về đường số 9, đuôi xe quay hướng đường số 5, tâm trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn là 02m90, tâm của trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 02m50 và cách tâm trục bánh sau xe (1) là 03m80.

(3) Vết máu để lại trên đường cách mép đường chuẩn là 0m70 cách trục bánh trước xe (1) là 0m50.

(4) Vết máu để lại trên đường cách mép đường chuẩn là 0m10 và cách tâm trục bánh trước xe (2) là 02m75.

* Cơ quan điều tra thu giữ 01 USB ghi nhận diễn biến vụ tai nạn giao thông (lưu giữ tại hồ sơ) tại biên bản mở camera ngày 05/8/2023 ghi nhận:

Hình ảnh ghi nhận, tại thời gian lúc 19 giờ 35 phút 36 giây ngày 26/02/2023, một người mặc áo thun màu xám, đội nón bảo hiểm màu trắng điều khiển xe mô tô lưu thông đi thẳng, đến khu vực giao nhau ngã tư (19 giờ 35 phút 37 giây), người này điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái. Cùng thời điểm có một người mặc áo màu sáng trắng, điều khiển xe mô tô lưu thông chiều ngược lại, xe mô tô màu đen, không bật đèn chiếu sáng. Đến thời lượng 19 giờ 35 phút 38 giây thì hai xe mô tô va chạm nhau, gây tai nạn, một xe mô tô phát tia lửa điện và cháy, cả hai người nằm bất tỉnh.

Sau khi xem lại hình ảnh camera, Bùi Tú T xác nhận: Người mặc áo thun màu xám, đội nón bảo hiểm màu trắng điều khiển xe mô tô lưu thông đi thẳng, đến khu vực giao nhau ngã tư chuyển hướng rẽ trái chính là T. T điều khiển xe môtô biển số 94DI - 598.53. Người va chạm với chị T là anh Võ Thanh B.

Chị Võ Thị M (đại diện hợp pháp của gia đình bị hại) xác nhận: Người điều khiển xe môtô lưu thông chiều ngược lại, xe mô tô màu đen, không rõ đặc điểm, không bật đèn chiếu sáng trong vụ nạn là anh Võ Thanh B, anh B điều khiển xe môtô biển số 37Z6 – 2773.

* Tại bản Kết luận giám định số 632/KL-KTHS, ngày 24/4/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận về dấu vết va chạm của phương tiện giao thông như sau: Bên phải xe mô tô biển số: 94D1-598.53 (dấu vết trượt xước, biến dạng, nứt vỡ tại các chi tiết bên phải; vè chắn bùn, bệ gác chân trước, yếm chắn gió, cụm đèn chiếu sáng) có cùng chiều từ trước ra sau, từ phải qua trái; phù hợp va chạm với phía trước của xe mô tô biển số: 37Z6-2773 (dấu vết trượt xước, biến dạng tại các chi tiết phía trước: vành bánh trước cong về phía sau, vè chắn bùn dính chất màu đen) có cùng chiều từ trước ra sau.

* Tại Kết luận giám định số 2767/KT-KTHS ngày 27/7/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Không đủ cơ sở để kết luận tốc độ xe mô tô biển số 37Z6 – 2773 tại thời điểm xảy ra tai nạn

* Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 072/TT/2023 ngày 17/3/2023 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Đồng Nai kết luận: Nguyên nhân tử vong của Võ Thanh B là do đa chấn thương:

- Chấn thương sọ não gây chảy máu màng mềm vùng chẩm và lều tiểu não, vỡ trần hốc mắt trái, gãy thành trong ổ mắt trái, gãy xương chính mũi.

- Chấn thương ngực gây gãy cung trước xương sườn 3,4, 5, 6 và 8,9 bên trái, dập phổi nhẹ hai bên, tràn máu khí phế quản; Bỏng độ I – II – III vùng hông, tay phải, bộ phận sinh dục và 02 chân tổng diện tích khoảng 16% diện tích cơ thể.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã giao trả xe mô tô biển số 94D1-598.53 cho Bùi Tú T là chủ sở hữu và trả xe mô tô biển số 37Z6 – 2773 bà Võ Thị M (là đại diện theo uỷ quyền của gia đình anh Võ Thanh B).

* Về phần trách nhiệm dân sự: Bùi Tú T đã bồi thường cho gia đình anh Võ Thanh B số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm và đã bãi nại cho T.

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSBH ngày 18/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Tú T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Tú T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của gia đình bị hại bà Võ Thị M có đơn xin vắng mặt. Quá trình điều tra, bà Mận đã có lời khai đầy đủ, xác nhận đã nhận số tiền bồi thường từ gia đinh bị cáo, đã viết đơn xin bãi nại cho bị cáo và không có yêu cầu gì. Việc vắng mặt của bà Mận không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt bà Mận theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi bị truy tố, tội danh, các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm, sơ đồ tại hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; bản kết luận giám định Pháp y về tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 35 phút ngày 26/02/2023, tại ngã tư giao nhau giữa đường số 5 và đường số 9 thuộc Khu công nghiệp Biên Hoà 1, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, Bùi Tú T (không có giấy phép lái xe A1 theo quy định) điều khiển xe môtô biển số 94D1-598.53 (có dung tích xi lanh 125 cm3) lưu thông trên đường số 5 hướng từ cầu An Hảo đi về hướng đường Trần Quốc Toản. Khi T điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái từ đường số 5 vào đường số 9. Do T chuyển hướng không đảm bảo an toàn (thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đang lưu thông trên phần đường ưu tiên) nên đã để bên phải xe mô tô do T điều khiển va chạm với phần đầu xe mô tô biển số: 37Z6 - 2773 do anh Võ Thanh B điều khiển lưu thông trên đường số 5 theo hướng từ đường Trần Quốc Toản đi về hướng cầu An Hảo gây tai nạn. Hậu quả: Anh Võ Thanh B tử vong.

Hành vi trên đây của bị cáo Bùi Tú T đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết một người nên phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó cần áp dụng mức án nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án tiền sự); đã tự nguyện bồi thường trách nhiệm dân sự và được đại diện hợp pháp bị hại làm đơn bãi nại; gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, bị hại có một phần lỗi điều khiển xe mô tô vào ban đêm không mở đèn (vi phạm điểm 1 khoản 1 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Thủ tướng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt).

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Trong thời gian tại ngoại, bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật, có khả năng tự cải tạo nên đối chiếu với quy định pháp luật, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú quản lý, giám sát giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội đồng thời vừa đảm bảo sự nghiêm minh vừa thể hiện chính sách nhân đạo của Pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo chấp hành.

. Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã giao trả xe mô tô biển số 94D1-598.53 cho Bùi Tú T là chủ sở hữu và trả xe mô tô biển số 37Z6 – 2773 cho bà Võ Thị M (là đại diện theo uỷ quyền của gia đình bị hại anh Võ Thanh B) là đúng quy định pháp luật

.Về phần trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm và đã bãi nại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 9 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Tuyên bố: bị cáo Bùi Tú T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt bị cáo Bùi Tú T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Tú T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Tú T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ