- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Minh N và đồng phạm - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đào Minh N 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án ngày 17/4/2024.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 56/2024/HSST Ngày 17 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Luân
Ông Trần Hưng
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ao Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ ngày 12 tháng 4 năm 2024 đến ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 210/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đào Minh N; sinh năm 1985; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 53/6 đường Phan Đăng L, Phường S, Quận PN, Thành phố H; Chỗ ở: 146/59/18/48 đường V, phường T, quận BT, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Chạy xe Grap; Họ tên cha: Đào Hữu Phước, sinh năm 1954; Họ tên mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là người thứ 4 trong gia đình; Vợ: Trần Thị Diễm E, sinh năm 1991, có 01 người con sinh năm 2015. (đã ly hôn theo quyết định số 330/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/3/2024).
Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 29/3/2023 đến ngày 27/9/2023 thay đổi biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú;
2. Họ và tên: Nguyễn Thị N; sinh năm 1963; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 58/6 đường Phan Đăng L, phường 5, quận PN, Thành phố H; Chỗ ở: 06 đường Trần Quý C, phường E, quận BT, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Họ tên cha: Nguyễn Văn T (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H (đã chết); Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là người thứ 5 trong gia đình; Chồng, con: Chung sống với ông Nguyễn Văn L (Không đăng ký kết hôn), có 01 con sinh năm 1987.
Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 29/3/2023 đến ngày 27/9/2023 thay đổi biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi sinh nơi cư trú;
3. Trần Ngọc D; sinh năm 1964; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 129 đường Phan Văn K, phường F, quận S, Thành phố H; Chỗ ở: 137/16 đường Trần Hữu T, phường T, quận PN, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Trần Văn T (chết); Họ tên mẹ: Lê Ngọc H, sinh năm 1947; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Phạm Thị Thu H, sinh năm 1965; Con: Có một con sinh năm 1985.
Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 29/3/2023 đến ngày 27/9/2023 thay đổi biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú;
4. Ngụy Văn C; sinh năm 1966; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: 146/59/18/143 đường V, phường T, quận BT, Thành phố H; Chỗ ở: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Họ tên cha: Ngụy Văn Trắng, sinh năm 1928 (đã chết); Họ tên mẹ: Lê Xuân Đ (đã chết); Gia đình bị cáo có 14 anh em, bị cáo là người thứ 09 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Hoàng H, sinh năm 1966; Con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1989.
Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 29/3/2023 đến ngày 05/7/2023 thay đổi biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú;
5. Trần Thị Diễm E; sinh năm 1991; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: Số 50 Bùi Đình T, phường TF, quận BT, Thành phố H; Chỗ ở: 146/59/18/48 đường V, phường T, quận BT, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Hà Văn L, sinh năm 1957 (đã chết); Họ tên mẹ: Trần Ngọc S, sinh năm 1958; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là người thứ 05 trong gia đình; Chồng: Đào Minh N, Con: Có một con sinh năm 2015. (đã ly hôn theo quyết định số 330/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/3/2024).
Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
Những người tham gia tố tụng: Không có
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 20 ngày 29/03/2023, Đội cảnh sát hình sự Công an quận Bình Thạnh phối hợp Công an phường 2, quận Bình Thạnh kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang tại nhà số 146/59/18/48 V, phường 2, quận Bình Thạnh, Đào Minh N, Nguyễn Thị N, Trần Ngọc D và Ngụy Văn C đang có hành vi đánh bạc ăn thua trực tiếp với nhau bằng tiền dưới hình thức chơi đỗ cá ngựa ăn tiền. Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiến là 3.610.000 đồng, trong đó thu giữ tại nơi ngồi của Đào Minh N 510.000 đồng; chổ ngồi của Nguyễn Thị N 40.000 đồng; chổ ngồi của Trần Ngọc D 320.000 đồng; chổ ngồi của Ngụy Văn C 2.740.000 đồng, ngoài ra còn tạm giữ trong người của N số tiền 21.330.000 đồng; trong người của Nương 300.000 đồng; trong người của Dương 9.450.000 đồng; trong người của Các số tiền 3.010.000 đồng;
Tại Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Đào Minh N, Nguyễn Thị N, Trần Ngọc D và Ngụy Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 29/3/2023, Đào Minh N dùng điện thoại Iphone 14 Promax gọi điện Lê Hoàng Hải (chưa rõ lai lịch) đến nhà N thuê tại số 146/59/18/48 V, Phường 2, quận Bình Thạnh để chơi cờ cá ngựa ăn tiền và Hải đồng ý; Khi Hải đến có N và Ngụy Văn C nên cả 03 chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền với nhau. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì Lê Hoàng Hải về, lúc này Lê Đại Hải và Nguyễn Văn Trung (chưa rõ lai lịch cả 02) đến và vào chơi cá ngựa đến 11 giờ 30 thì Ngụy Văn C ra về. Khoảng 13 giờ, Trần Ngọc D đến, Đào Minh N cùng Lê Đại H, Nguyễn Văn Tr, Trần Ngọc D tiếp tục chơi đánh bạc với nhau. Đến khoảng 17 giờ, Lê Đại Hải đi về, lúc đó Nguyễn Thị N vừa đến nên ngồi thế vào chỗ của Lê Đại Hải. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, Ngụy Văn C quay lại vào chơi thay chỗ của N ngồi. Đến khoảng 19 giờ 30 phút thì Nguyễn Văn Tr nghỉ nên N vào thay Tr ngồi để cùng mọi người tiếp tục chơi cờ cá ngựa ăn tiền với nhau. Khi chơi đến 21 giờ 20 phút thì bị lực lượng Công an vào kiểm tra bắt quả tang Đào Minh N, Nguyễn Thị N, Trần Ngọc D và Ngụy Văn C cùng đánh bạc với nhau ăn tiền như đã nêu trên.
Đào Minh N đứng ra tổ chức cho các con bạc chơi đánh bạc ăn thua trực tiếp với nhau bằng tiền dưới hình thức đổ cá ngựa từ khoảng đầu tháng 3/2023 tại nhà thuê số 146/59/18/48 V, phường 2, quận Bình Thạnh, trong đó N là người trực tiếp đứng ra mời gọi các con bạc, N chuẩn bị dụng cụ dùng để chơi cá ngựa, sắp xếp cho các con bạc chơi cờ cá ngựa ăn tiền với nhau và thu tiền xâu từ các con bạc, nhưng không có phân công người cảnh giới cho sòng bạc, còn Trần Thị Diễm E là vợ N, có nhiệm vụ giúp N mua, nấu đồ ăn, nước uống phục vụ cho con bạc và chăm lo gia đình từ tiền xâu do N thu được. Mỗi ngày tiền xâu mà Đào Minh N thu được từ việc tổ chức chơi cờ ngựa ăn tiền khoảng 400.000 đồng đến 600.000 đồng, ngày 29/3/2023, số tiền xâu N thu được là 540.000 đồng, trưa cùng ngày N lấy tiền xâu ra 300.000 đồng đưa cho Diễm E đi chợ mua đồ ăn, nước uống về để nấu ăn chung cho gia đình và các con bạc đến chơi.
Đào Minh N quy định nếu người chơi nào có con ngựa vào chuồng đầu tiên, gọi là “Thầu mạ” sẽ ăn mỗi người còn lại là 200.000 đồng, người ăn thầu mạ phải đóng cho N 40.000 đồng tiền xâu. Trường hợp nếu không có ngựa “Thầu mạ” thì người thắng ván cờ đó sẽ đóng tiền xâu của ván đó là 40.000 đồng, tiền xâu được bỏ vào hũ nhựa mà N đặt dưới bàn cờ. Còn cách thức chơi được mọi người quy định như sau: Bàn cờ cá ngựa có 04 người chơi, không có người làm cái, có 04 màu ngựa là: Vàng, Đỏ, Xanh lá, Xanh dương, mỗi màu có 04 con ngựa bằng nhựa và quy định người cầm ngựa màu vàng sẽ được quyền đi đầu tiên. Người chơi đổ 02 con xúc xắc vào 01 tô sứ nếu kết quả ra 01 con 01 điểm và 01 con 06 điểm (gọi là nhất lục) thì người đó được ra ngựa, hoặc 02 con xúc xắc ra điểm giống nhau thì được ra ngựa. Người có con ngựa đầu tiên vào thẳng chuồng ở ô mang số 06 thì gọi là “Thầu mạ”, sẽ ăn 03 người chơi còn lại mỗi người 200.000 đồng; Nếu 01 con ngựa về chuồng rơi vào ô mang số 01 thì gọi là “sập hầm” thì con ngựa này được tính là 120.000 đồng, chia cho 03 người chơi còn lại mỗi người 40.000 đồng. Còn khi có 01 con ngựa vào chuồng bình thường thì tính 40.000 đồng đối với 3 người chơi còn lại. Khi người chơi lắc xúc xắc ra cặp nhất (01 điểm) hoặc cặp lục (06 điểm) mà đá được ngựa, thì sẽ tính 40.000 đồng, còn các kiểu đá còn lại đều tính 20.000 đồng/01 lần bị đá. Nếu người chơi có 04 con ngựa vào chuồng đầy đủ mà 03 người còn lại chưa có con ngựa nào vào chuồng thì bị gọi là “cón” và mọi người sẽ thua 300.000 đồng, người thắng ăn được 900.000 đồng; nếu chỉ có 01 hoặc 02 người bị “cón” thì sẽ chung cho người thắng số tiền là 200.000 đồng; Như vậy, trung bình mỗi ván cờ cá ngựa, người chơi ăn nhiều nhất là 1.740.000 đồng và thua nhiều nhất là 580.000 đồng/01 người; Đào Minh N đã tổ chức đánh bạc được khoảng 25 ngày thu lợi bất chính khoảng 12.500.000 đồng.
Sáng ngày 29/3/2023, Đào Minh N sử dụng 700.000 đồng chơi đánh bạc nhưng đã thua hết, đến buổi chiều N dùng 1.300.000 đồng để đánh bạc nhưng lấy 500.000 đồng ra cầm trên tay để chơi, còn 800.000 đồng để trong túi quần trước bên phải. N đánh thắng được 20.000 đồng, cho con 10.000 đồng mua bánh, khi bắt thu giữ trên chiếu bạc tại chổ N ngồi 510.000 đồng và 800.000 đồng trong túi quần phía trước bên phải. Ngoài ra còn thu giữ của N số tiền 21.330.000 đồng là tiền cá nhân không dùng để đánh bạc;
Nguyễn Thị N khai: Vào khoảng 17 giờ ngày 29/3/2023, Nương đến nhà N tại số 146/59/18/48 V, phường 2, quận Bình Thạnh để chơi cờ cá ngựa ăn tiền do N rủ, khi đi Nương mang theo và sẽ sử dụng hết số tiền 1.360.000 để đánh bạc. Đến nơi Nương thấy Hải, Dương, Các và N đang chơi nên Nương ngồi được một lúc thì Lê Đại Hải nghỉ nên Nương thế vào chỗ của Hải ngồi chơi. Ban đầu Nương lấy 500.000 đồng ra để chơi, còn lại 860.000 đồng để trong bóp, khi nào thua hết tiền bên ngoài sẽ lấy ra chơi tiếp. Nương ngồi chơi đến khoảng 21 giờ 20 cùng ngày thì bị Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tại vị trí Nương ngồi số tiền là 40.000 đồng, thu trong bóp 300.000 đồng; Nguyễn Thị N biết được địa điểm đánh bạc này là do vợ chồng Đào Minh N đứng ra tổ chức, cung cấp dụng cụ chơi cờ cá ngựa còn Trần Thị Diễm E, vợ N, sẽ lo cơm ăn, nước uống cho người chơi đánh bạc nhưng không có người cảnh giới;
- Trần Ngọc D khai: Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 29/3/2023, Dương đến nhà Đào Minh N tại địa chỉ 146/59/18/48 V, phường 2, quận Bình Thạnh để chơi cờ cá ngựa ăn tiền. Khi đến chơi Dương mang tổng cộng là 11.500.000 đồng để trong bóp ở túi quần sau. Dương dùng 2.050.000 đồng để đánh bạc, Dương lấy trước 1.000.000 đồng ra để chơi, số tiền 1.050.000 đồng còn lại Dương để bóp. Khi bị bắt quả tang thu tại chỗ ngồi của Dương số tiền 320.000 đồng và số tiền dùng để đánh bạc là 1.050.000 đồng trong người. Ngoài ra còn tạm giữ của Trần Ngọc D số tiền 9.450.000 đồng là tiền cá nhân không sử dụng để đánh bạc; Trần Ngọc D biết địa điểm trên có tổ chức chơi cờ cá ngựa ăn tiền là do Dương thường hay đến khu vực này để thăm nhà người thân, địa điểm trên do Đào Minh N đứng ra tổ chức, có thu tiền xâu, để mua đồ ăn, thức uống phục vụ cho người đến chơi, nhưng không có người cảnh giới;
- Ngụy Văn C khai: Khoảng 10 giờ ngày 29/03/2023, Các đến nhà Đào Minh N tại số 146/59/18/48 V, phường 2, quận Bình Thạnh để chơi cờ cá ngựa ăn tiền. Các lấy ra 480.000 đồng để chơi, đến 11 giờ 30, Các đã thắng được 520.000 đồng, do có công việc nên Các nghỉ chơi và đưa số tiền thắng và tiền vốn ban đầu là 1.000.000 đồng cho N giữ giúp. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, Ngụy Văn C quay lại chơi tiếp, lúc này Các có mang 3.010.000 đồng nhưng không dùng để đánh bạc, N đưa lại 1.000.000 đồng lúc sáng Các nhờ giữ giúp, Các dùng số tiền 1.000.000 đồng này để chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh bắt quả tang, thu giữ tại chổ ngồi của Các số tiền 2.740.000 đồng, như vậy Các đã ăn được 1.740.000 đồng. Trong quá trình chơi cá ngựa, Các dùng 74.000 đồng tiền ăn cá ngựa mua thuốc hút và nước ngọt uống.
- Trần Thị Diễm E khai: Vào khoảng 22 giờ ngày 29/3/2023, Trần Thị Diễm Evà chồng là Đào Minh N bị bắt quả tang tại nhà mình thuê địa chỉ số 146/59/18/48 Vũ Tùng, Phường 2, quận Bình Thạnh về hành vi sử dụng nhà thuê của mình để tổ chức cho các đối tượng đánh bạc bằng hình thức chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền để thu tiền xâu. Việc thu tiền xâu do N quy định, Diễm E biết rõ việc này và biết cách thu tiền xâu như nếu người chơi có 01 con ngựa vào chuồng đầu tiên gọi là “Thầu mạ” sẽ phải đóng tiền xâu 40.000 đồng, nếu trong ván chơi đó không có “Thầu mạ” thì sẽ thu tiền xâu đối với người thắng ván chơi đó, nếu N bận công việc thì Diễm E sẽ thu giúp. N là người gọi điện mời khách đến chơi, cung cấp dụng cụ để chơi và thu tiền xâu của khách, nếu thiếu người chơi thì N trực tiếp vào chơi. Tiền xâu được thì N đưa ra một phần cho Diễm E để lo ăn uống cho gia đình và các con bạc đến chơi muốn sử dụng thì tự lấy sử dụng. Khi Đào Minh N bận thì Diễm E thu tiền xâu thay, một phần tiền xâu chi tiêu sinh hoạt gia đình. Khoảng 11 giờ ngày 29/3/2023, N lấy tiền xâu đưa cho Diễm 300.000 đồng để đi chợ mua đồ ăn, nấu cho gia đình và các con bạc ăn, tại thời điểm bắt quả tang Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh thu giữ số tiền xâu còn trong hủ xâu là 240.000 đồng. Trần Thị Diễm Ebiết rõ số tiền 240.000 đồng này là tiền xâu do các con bạc đóng, còn cụ thể N thu tiền xâu được bao nhiêu trong ngày 29/3/2023 thì Diễm E không rõ.
Vật chứng:
- 01 bàn hình vuông có 4 chân gỗ kích thước 60cm x 60cm; 01 bàn cờ ngựa kích thước 50cm x 50cm; 03 ghế nhựa có tựa lưng nhỏ; 01 ghế nhựa cao và 01 ghế nhựa thấp; 01 tô sứ và 02 con xúc xắc; 01 ống nhựa chứa 06 con xúc xắc.
- 16 quân cờ cá ngựa gồm: 04 quân cờ màu đỏ, 04 quân cờ màu xanh lá cây, 04 quân cờ màu vàng và 04 quân cờ màu xanh dương.
- 5.710.000 đồng dùng để đánh bạc, (thu trên chiếu bạc là 3.610.000 đồng và 2.100.000 trong người của N, Nương và Dương dùng để đánh bạc).
- 01 hủ nhựa bên trong có 240.000 đồng tiền xâu.
- Thu giữ của Đào Minh N: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, N dùng để liên lạc gọi các con bạc đến đánh bạc và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus dùng để liên lạc với gia đình.
- Thu của Nguyễn Thị N: 01 điện thoại di động hiệu Samsung
- Thu của Trần Thị Diễm E: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X.
- Thu của Trần Ngọc D: 01 điện thoại di động hiệu OPPO và 01 xe gắn máy hiệu Airblade, biển số 86B5-047.98. Xác minh thực được biết xe máy trên do ông Trần Đức Tài, ngụ tại ấp Đông Thuận, xã Tân Hà, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận là em ruột của Dương tên chủ sở hữu; Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh đã xác minh đến nay chưa có kết quả trả lời nên Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh tách riêng sẽ xử lý sau.
- Ngoài ra còn tạm giữ của Đào Minh N số tiền 21.330.000 đồng; Trần Ngọc D 9.450.000 đồng; của Ngụy Văn Các số tiền 3.010.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 192/CT-VKSBT ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Evề tội “Đánh bạc”, được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Eđã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Quá trình điều tra các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Etự nguyện khai báo không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình … để buộc các bị cáo phải khai trái ý muốn của mình. Bị cáo Đào Minh N đồng ý tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính là 12.500.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước. Quá trình tạm giam khoảng 06 tháng các bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật. Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho các bị cáo được tại ngoại, để tiếp tục cuộc sống bình thường hàng ngày ngoài xã hội. Có điều kiện chăm sóc cho gia đình, nuôi dưỡng con nhỏ và cha mẹ già yếu khi được nói lời nói sau cùng.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Ephạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đào Minh N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm. Đề nghị phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và là người lớn tuổi nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Ngọc D từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và là người lớn tuổi nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngụy Văn C từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và là người lớn tuổi nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thị Diễm E09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Ekhai nhận quá trình điều tra tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, các bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không bị ép buộc bị cáo khai không đúng với ý chí của các bị cáo. Như vậy lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay giống như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 29/3/2023, tại số nhà 146/59/18/48 đường V, phường 2, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đội cảnh sát hình sự công an quận Bình Thạnh kết hợp Công an phường 02, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C có hành vi đánh bạc ăn thua trực tiếp với nhau bằng tiền dưới hình thức chơi cờ cá ngựa, thu giữ tổng số tiền mà các con bạc dùng vào mục đích đánh bạc là 5.710.000 đồng. Các bị cáo thực hiện việc đánh bạc với nhau tại nhà thuê của bị cáo Đào Minh N, việc đánh bạc do bị cáo Đào Minh N đứng ra tổ chức, khởi xướng, kêu gọi, rủ rê các con bạc, cung cấp dụng cụ để đánh bạc với mục đích thu tiền xâu, việc thu tiền xâu nhằm mục đích mua đồ ăn, thức uống cho các con bạc đến chơi bạc và một phần chi tiêu cho nhu cầu ăn uống trong gia đình. Bị cáo Trần Thị Diễm Elà vợ của bị cáo Đào Minh N biết việc N tổ chức cho các đánh bạc đến đánh bạc bằng hình thức chơi cờ cá ngựa, bị cáo có vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo Đào Minh N như phụ thu tiền xâu khi Đào Minh N bận việc hoặc đi vắng, lấy tiền xâu đi chợ nấu đồ ăn, chuẩn bị nước uống trong gia đình và cho các con bạc muốn sử dụng thì tự lấy sử dụng. Bị cáo Đào Minh N bắt đầu tổ chức đánh bạc từ khoảng tháng 3 năm 2023, (khoảng 25 ngày) cho đến ngày bị bắt, thu lợi bất chính mỗi ngày khoảng 500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Eđã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Elà người đã trưởng thành, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo đã đánh bạc bằng hình thức chơi cờ cá ngựa để ăn thua với nhau trực tiếp bằng tiền, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, việc bị phát hiện và bắt quả tang nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, tội phạm đã hoàn thành.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Elà nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự xã hội, đánh bạc là một trong những tệ nạn gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, đây chính là nguyên nhân sâu xa phát sinh một số loại tội phạm khác. Việc chơi bạc còn tạo cho con người có thói quen trông đợi vào sự rủi may trong cuộc sống, lười biếng lao động, không chú tâm làm ăn lương thiện, là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình. Những người có hành vi vi phạm tùy tính chất mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật; các bị cáo nhận thức được điều này nhưng do tính tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài, thiếu ý thức tôn trọng pháp luật nên đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, lai lịch của từng bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Hành vi phạm tội của bị cáo Đào Minh N vừa là người tham gia đánh bạc, vừa có hành vi đứng ra cho mượn địa điểm, cung cấp dụng cụ đánh bạc, kêu gọi, rủ rê mọi người đến đánh bạc mục đích để thu tiền xâu, dùng tiền xâu để đi chợ nấu đồ ăn, chuẩn bị nước uống phục vụ cho những người đến chơi bạc. Bị cáo Trần Thị Diễm Ecó vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo Đào Minh N thực hiện hành vi phạm tội như biết việc N tổ chức đánh bạc bằng hình thức chơi cờ cá ngựa, phụ thu tiền xâu khi Đào Minh N bận việc hoặc đi vắng, lấy tiền xâu đi chợ nấu đồ ăn, chuẩn bị nước uống trong gia đình và cho các con bạc muốn sử dụng thì tự lấy sử dụng. Hành vi của bị cáo Đào Minh N và Trần Thị Diễm Ecó dấu hiệu của tội “Tổ chức đánh bạc”. Tuy nhiên, các con bạc đánh bạc chưa đủ 10 người, chưa đủ 2 chiếu bạc trở lên và số tiền đánh bạc trong 01 lần chưa đủ 20 triệu đồng trở lên, nên chưa đủ yêu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” nên xử lý các bị cáo Đào Minh N và Trần Thị Diễm Evề tội ‘Đánh bạc” theo quy định.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm mang tính chất giản đơn, chưa có sự phân công nhiệm vụ, vai trò cụ thể, chưa cấu kết chặt chẽ với nhau, khi đánh bạc không phân công người cảnh giới, trong đó bị cáo Đào Minh N với vai trò chính là người khởi xướng, kêu gọi, rủ rê, cung cấp dụng cụ đánh bạc, cho mượn địa điểm, thu tiền xâu, bị cáo Trần Thị Diễm Ecó vai trò đồng phạm phụ giúp bị cáo Đào Minh N đi chợ nấu đồ ăn, chuẩn bị nước uống phục vụ. Các bị cáo Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C tham gia đánh bạc. Do đó căn cứ vào hành vi cụ thể của các bị cáo, căn cứ tính chất, mức độ tham gia của các bị cáo, nhân thân của các bị cáo, để Hội đồng xét xử phân hóa trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không có
Về tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có trình độ học vấn thấp, bị cáo Ngụy Văn C và bị cáo Trần Thị Diễm Ekhông biết chữ. Bị cáo Ngụy Văn C bị bệnh hiểm nghèo “K dạ dày đã mổ”. Đối với bị cáo Đào Minh N và bị cáo Trần Thị Diễm Elà vợ chồng, tuy nhiên đã ly hôn theo quyết định số 330/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân quân Bình Thạnh, tại quyết định giao cho bị cáo Đào Minh N là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung Đào Phụng Tiên, sinh ngày 12/10/2015, do đó bị cáo là lao động chính và duy nhất trong gia đình, đang nuôi con nhỏ tuổi. Bị cáo Đào Minh N có đơn xin nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc và đã khắc phục nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính là 12.500.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước. Quá trình được tại ngoại điều tra các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Echấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật, không vi phạm pháp luật gì. Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nêu trên kết hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật, nhằm giáo dục là chính để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Nhận thấy, quá trình điều tra các bị cáo Đào Minh N, Nguyễn Thị N và Trần Ngọc D đã bị tạm giam 05 tháng 27 ngày (từ ngày 29/3/2023 đến ngày 27/9/2023), bị cáo Ngụy Văn C bị tạm giam 04 tháng 24 ngày (từ ngày 29/3/2023 đến ngày 05/7/2023), sau đó thay thế biên pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo Trần Thị Diễm Ekhông bị tạm giam do đang nuôi con nhỏ, các bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, đã nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật và cam kết sẽ không bao giờ tái phạm.
Xét thấy, tính chất, mức độ, hành vi tội phạm của các bị cáo trong vụ án được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền không lớn, số tiền đánh bạc mới trên mức khởi điểm để truy tố. Các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Ecó nơi cư trú ổn định, rõ ràng.
Xét thấy, không cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Era khỏi đời sống xã hội một thời gian mà các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên cho các bị cáo Đào Minh N; Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Ehưởng án treo và ấn định thời gian thử thách với các bị cáo cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong hội. Ngoài ra cũng tạo điều kiện cho cho các bị cáo ở ngoài tiếp tục làm ăn, điều trị bệnh, chăm sóc gia đình và nuôi con nhỏ trong độ tuổi ăn học, phù hợp với quy định của pháp luật và cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Ở dạng tội phạm này ngoài hình phạt chính là phạt tù ra thì các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy trong vụ án này bị cáo Đào Minh N thực hiện với vai trò chính, Hội đồng xét xử cân nhắc các điều kiện để cho bị cáo Đào Minh N được hưởng án treo, nhưng cũng cần phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước nhằm răn đe bị cáo ý thức tôn trọng pháp luật. Các bị cáo Nguyễn Thị N; Trần Ngọc D; Ngụy Văn C và Trần Thị Diễm Ephạm tội lần đầu về hành vi đánh bạc và có hoàn cảnh khó khăn, nên không phạt bổ sung bằng tiền với các bị cáo là phù hợp.
Đối các đối tượng Lê Hoàng Hải, Lê Đại Hải và Nguyễn Văn Trung (Không rõ lai lịch) có hành vi đánh bạc, do các đối tượng này đã bỏ về từ trước nên không xác định và chứng minh được khi đánh bạc tại chiếu bạc có bao nhiêu tiền, các đối tượng hiện nay không xác định được nhân thân lai lịch, do đó Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, nếu vi phạm pháp luật sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- 01 bàn hình vuông có 4 chân gỗ kích thước 60cm x 60cm; 01 bàn cờ ngựa kích thước 50cm x 50cm; 03 ghế nhựa có tựa lưng nhỏ; 01 ghế nhựa cao và 01 ghế nhựa thấp; 01 tô sứ và 02 con xúc xắc; 01 ống nhựa chứa 06 con xúc xắc. Đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- 16 quân cờ cá ngựa gồm: 04 quân cờ màu đỏ, 04 quân cờ màu xanh lá cây, 04 quân cờ màu vàng và 04 quân cờ màu xanh dương. Đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- 5.710.000 đồng dùng để đánh bạc, (thu trên chiếu bạc là 3.610.000 đồng và 2.100.000 trong người của N, Nương và Dương dùng để đánh bạc). Đây là vật chứng của vụ án, các bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 hủ nhựa bên trong có 240.000 đồng là tiền xâu, là vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Thu giữ của Đào Minh N:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, N dùng để liên lạc gọi bị cáo Nương đến đánh bạc. Đây là vật chứng của vụ án, bị cáo dùng liên lạc vào mục đích đánh bạc, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus Đào Minh N dùng để liên lạc với gia đình. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không phải vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định
- Thu của Nguyễn Thị N: 01 điện thoại di động hiệu Samsung. Đây là vật chứng của vụ án, bị cáo dùng liên lạc vào mục đích đánh bạc, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Thu của Trần Thị Diễm E: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không phải vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định
- Thu của Trần Ngọc D: 01 điện thoại di động hiệu OPPO. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không phải vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định
- 01 xe gắn máy hiệu Airblade, biển số 86B5-047.98. Xác minh thực được biết xe máy trên do ông Trần Đức Tài, ngụ tại ấp Đông Thuận, xã Tân Hà, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận là em ruột của Trần Ngọc D đứng tên chủ sở hữu; Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh đã ủy thác xác minh đến nay chưa có kết quả trả lời, đây không phải là vật chứng của vụ án, nên Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh tách riêng sẽ xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không xét.
- Thu giữ của Đào Minh N số tiền 21.330.000 đồng. Đây là số tiền cá nhân của bị cáo không dùng vào việc đánh bạc, không liên quan đến vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định.
- Thu giữ của bị cáo Trần Ngọc D 9.450.000 đồng. Đây là số tiền cá nhân của bị cáo không dùng vào việc đánh bạc, không liên quan đến vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định.
- Thu giữ của Ngụy Văn C số tiền 3.010.000 đồng. Đây là số tiền cá nhân của bị cáo không dùng vào việc đánh bạc, không liên quan đến vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích để bị cáo Đào Minh N biết đối với số tiền bị cáo đã tự nguyện nộp là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) để sung công quỹ Nhà nước. Tuy nhiên bị cáo Đào Minh N giữ nguyên ý kiến đồng ý tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính này để sung công quỹ Nhà nước và đã được nộp số theo biên lai thu tiền số 0001765 ngày 11/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đào Minh N 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án ngày 17/4/2024.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước
Giao bị cáo Đào Minh N cho Ủy ban nhân dân phường 02, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đào Minh N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đào Minh N đồng ý nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) để sung công quỹ Nhà nước. Bị cáo Đào Minh N Đã nộp số tiền 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001765 ngày 11/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh để sung công quỹ Nhà nước.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án ngày 17/4/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân phường 11, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thị N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án ngày 17/4/2024.
Giao bị cáo Trần Ngọc D cho Ủy ban nhân dân phường 10, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Ngọc D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
1.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Ngụy Văn C 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án ngày 17/4/2024.
Giao bị cáo Ngụy Văn C cho Ủy ban nhân dân phường 2, quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Ngụy Văn C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
1.5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Diễm E01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án ngày 17/4/2024.
Giao bị cáo Trần Thị Diễm Echo Ủy ban nhân dân phường 02, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Thị Diễm Ecố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
2.1. Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- 01 bàn hình vuông có 4 chân gỗ kích thước 60cm x 60cm; 01 hộp bàn cờ ngựa; 03 ghế nhựa có tựa lưng nhỏ; 01 ghế nhựa cao; 01 ghế nhựa thấp; 01 tô sứ; 02 con xúc xắc; 01 ống nhựa chứa 06 con xúc xắc.
- 16 quân cờ cá ngựa gồm: 04 quân cờ màu đỏ, 04 quân cờ màu xanh lá cây, 04 quân cờ màu vàng và 04 quân cờ màu xanh dương.
- 01 hủ nhựa.
2.2. Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung
- Số tiền 5.710.000 đồng (Năm triệu bảy trăm mười ngàn đồng) của các bị cáo dùng để đánh bạc.
- Số tiền 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi ngàn đồng) là tiền xâu.
2.3. Tuyên trả lại cho các bị cáo:
- Trả lại cho bị cáo Đào Minh N: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus và số tiền 21.330.000 đồng (Hai mươi mốt triệu ba trăm ba mươi ngàn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc D: 01 điện thoại di động hiệu OPPO và số tiền 9.450.000 đồng (Chín triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Ngụy Văn C số tiền 3.010.000 đồng (Ba triệu không trăm mười ngàn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Trần Thị Diễm E: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 08 giờ 00 phút, ngày 17/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3.1. Về án phí: Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3.2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM - VKSND, CA quận Bình Thạnh; - Chi cục THA Dân sự Q.BT; - THA HS; - PC.27 Công an Tp.HCM; - Trại giam; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thức |