vanban.org

Bản án 56/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 11/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M phạm tội: Đánh bạc. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HSST
Ngày: 11/03/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ HẠNH VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lư ng Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lò Văn Quốc.

Bà Lý Thị Vinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.

Ngày 11/3/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 29/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 29/02/2024 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn H, sinh năm: 1954 và bà: Lò Thị D, sinh năm: 1958; Bị cáo có vợ: Lò Thị D, sinh năm:1997 và 02 con lớn 10 tuổi nhỏ 6 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

2. Cà Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1989 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cà Văn M, sinh năm: 1969 và bà: Cà Thị D, sinh năm: 1969; Bị cáo có vợ: Quàng Thị L, sinh năm:1996 và 02 con lớn 10 tuổi nhỏ 8 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

3. Quách Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1981 tại xã Y, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quách Văn C, sinh năm: 1958 và bà: Mầu Thị T(đã chết); Bị cáo có vợ: Nghiêm Nhật L, sinh năm:1984 và 04 con lớn nhất 20 tuổi nhỏ nhất 3 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

4. Phạm Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994 tại xã Đ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Đội 9, thôn S, xã Đ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn H, sinh năm: 1969 và bà: Vũ Thị L, sinh năm: 1971; Bị cáo có vợ: Bùi Thị T, sinh năm:1995 và 01 con 2 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

5. Quàng Văn X; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1989 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn D, sinh năm: 1961 và bà: Cà Thị T, sinh năm: 1963; Bị cáo có vợ: Hoàng Thị B, sinh năm:1990 và 02 con lớn 9 tuổi nhỏ 7 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

6. Quàng Văn Q; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1977 tại xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản B, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn L, sinh năm: 1961 và bà: Bạc Thị B (đã chết); Bị cáo có vợ: Lò Thị M, sinh năm:1981 và 02 con lớn 23 tuổi nhỏ 21 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

7. Lò Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1983 tại xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản M, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn H (đã chết) và bà: Lò Thị M (đã chết); Bị cáo có vợ: Quàng Thị P, sinh năm:1984 và 02 con lớn 20 tuổi nhỏ 18 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

8. Cà Văn N; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1982 tại xã C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam - Phó B thư chi bộ bản P sinh hoạt tại Chi bộ bản Phiêng Lỷ, xã C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Hiện đã bị Đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 28/02/2024; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cà Văn H, sinh năm: 1936 và bà: Lò Thị N, sinh năm: 1945; Bị cáo có vợ: Bạc Thị M, sinh năm:1984 và 04 con lớn nhất 18 tuổi nhỏ nhất 10 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

9. Lường Văn M; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lư ng Văn T, sinh năm: 1962 và bà: Lò Thị D, sinh năm: 1966; Bị cáo có vợ: Lò Thị M, sinh năm:1992 và 02 con lớn 14 tuổi nhỏ 12 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

* Nguyên đơn dân sự đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH T; Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Ngư i đại diện ông: Đàm Thanh T- Giám đốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 gi 45 phút ngày 15/12/2023, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội pham về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện Thuận Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, xã T, huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang tại phòng nghỉ khu công nhân của Công ty TNHH T có 09 đối tượng gồm: Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M có hành vi Đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng cá cược được thua bằng tiền. Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong vật chứng có liên quan:

1. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 1.300.000 đồng tạm giữ trong túi quần ph a sau bên phải của Cà Văn N (theo Ngôn khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

2. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 20.000 đồng tạm giữ tại vị tr trên chiếu trước mặt ngồi đánh bạc của Cà Văn N (theo Ngôn khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

3. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 500.000 đồng tạm giữ tại vị tr trong túi quần ph a sau bên trái của Cà Văn T (theo T khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

4. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 10.000 đồng tiền trên chiếu trước mặt của Cà Văn T (Theo T khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

5. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 6.480.000 đồng tạm giữ trong v dưới đệm ngủ trên giư ng ph a sau vị tr Phạm Văn H ngồi đánh bạc (theo Hưng khai nhận số tiền 1.280.000 đồng Hưng sử dụng vào việc đánh bạc ( số tiền 1.080.000 đồng này là tiền hàng hóa của Công ty TNHH T,200.000 đồng là tiền của Hưng), còn lại số tiền 5.200.000 đồng Hưng không sử dụng để đánh bạc).

6. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 370.000 đồng tạm giữ tại vị tr trước mặt ngồi đánh bạc của Phạm Văn H (Theo Hưng khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

7.Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 320.000 đồng tạm giữ tại vị tr trong túi quần ph a trước bên phải của Quàng Văn Q (theo Quân khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

8. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 10.000 đồng tạm giữ trên chiếu trước mặt của Quàng Văn Q (theo Quân khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

9. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 200.000 đồng tạm giữ tại vị tr trong túi quần ph a sau bên phải của Lò Văn T (theo Tươi khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

10. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 10.000 đồng tiền trên chiếu trước mặt của Lò Văn T (theo Tươi khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

11.Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 500.000 đồng tạm giữ vị tr trong túi quần ph a trước bên phải của Lò Văn T (theo T khai nhận là tiền sử dụng vào mục đ ch đánh bạc).

12. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 10.000 đồng tạm giữ trên chiếu trước mặt của Lò Văn T (Theo T khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

13.Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 40.000 đồng tạm giữ tại vị tr trên chiếu trước mặt ngồi đánh bạc của Lư ng Văn M (theo Món khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

14. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 450.000 đồng tạm giữ tại vị tr trên chiếu trước mặt ngồi đánh bạc của Quách Văn H (theo Hồng khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

15. Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 400.000 đồng tạm giữ tại vị tr trong túi quân ph a sau bên trái của Quàng Văn X (theo Xoa khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

16.Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 80.000 đồng tạm giữ tại vị tr trên chiêu trước mặt của Quàng Văn X (theo Xoa khai nhận là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc).

17. Một bộ bài tú lơ khơ 52 quân tạm giữ tại vị tr nơi các đối tượng ngồi đánh bạc đã qua sử dụng, cũ.

18. Một chiếc v giả da màu đen, mặt trước có gắn ký tự GUCCI, đã qua sử dụng, cũ.

19. Một chiếc chiếu nhựa k ch thước 1,6 x 2m màu đỏ - trắng - ghi đã qua sử dụng cũ.

Ngày 16/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã ra Quyết định số 05/QĐ-HSKTMT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định toàn bộ số tiền 10.700.000 đồng tạm giữ của Lò Văn T, Cà Văn T, Quàng Văn Hồng, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M.

Tại bản Kết luận giám định số 40/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật. Hoàn lại đối tượng giám định: Toàn bộ số tiền gửi giám định.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11 gi 50 phút ngày 15/12/2023 Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H sau khi ăn cơm xong tại nhà ăn của Công ty TNHH T ở bản Công Mư ng, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thì 03 ngư i cùng đi bộ về phòng nghỉ của khu công nhân mỏ đá. Lúc này T có rủ T và Hồng đánh bạc bằng hình thức chơi Liêng cá cược thắng thua bằng tiền với tỷ lệ cá cược là 10.000 đồng một ngư i/một ván, tố tối thiểu là 10.000 đồng, tố tối đa là 100.000 đồng. T và Hồng đồng ý. T lấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài có sẵn trên bàn uống nước ở trong phòng rồi cùng T và Hồng ngồi lên giư ng đã dải sẵn chiếu để chia bài đặt tiền đánh bạc bằng hình thức chơi Liêng cá cược thắng thua bằng tiền, hình thức chơi như sau:

Trước khi chia bài thì mỗi ngư i chơi đều bỏ ra số tiền: 10.000 đồng đặt xuống chiếu bạc để góp tiền làng - Tiền cá cược (Góp gà), sau đó mỗi ngư i được chia 03 quân bài, sau khi mọi ngư i kiểm tra bài thì ngư i chia bài nếu xét thấy bài của mình có thể thắng những ngư i còn lại thì sẽ là ngư i đầu tiên đưa ra mức cá cược (Tố) với mức thấp nhấp là 10.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng và bỏ số tiền mà mình cá cược xuống chiếu bạc, ngư i tiếp theo được tham gia cá cược là ngư i ngồi bên tay phải theo thứ tự ngồi của ngư i chia bài (Ngược chiều kim đồng hồ), nếu thấy bài của mình yếu thì có thể úp bài và chịu thua mất số tiền mình đã góp làng và đã cá cược, nếu xét thấy bài mình mạnh thì tham gia cá cược và đặt tiền cá cược xuống chiếu bạc, số tiền cá cược không được t hơn mà phải bằng hoặc cao hơn số tiền ngư i đã cá cược trước đó và không giới hạn số lần cá cược (Lần tố) trong một ván. Khi chỉ còn 02 ngư i tham gia cá cược hoặc khi mọi ngư i cùng thống nhất mở bài thì mọi ngư i sẽ so bài với nhau để tìm ngư i duy nhất thắng cuộc theo thứ tự t lớn đến thấp cụ thể là: Sáp, Liêng, Ảnh, Điểm. Trong đó: Sáp là có 3 quân bài giống nhau thấp nhất là 222, cao nhất là AAA, Liêng là có 3 quân bài thứ tự liền kề nhau, thấp nhất là A23, cao nhất là QKA, Ảnh là có 3 quân bài t J đến K trong đó có 01 quân bài không trùng với 2 quân bài còn lại, thấp nhất là JJQ, cao nhất là KKQ, Điểm là thấp nhất sẽ cộng điểm của 3 quân bài lại (Không cộng T điểm quân bài từ 10 đến K) theo thang điểm 9, ai cao điểm hơn là ngư i thắng cuộc. Ngư i thắng cuộc sẽ được hưởng toàn bộ số tiền mà những ngư i còn lại đã góp tiền làng và đã cá cược bỏ xuống chiếu bạc. mỗi ván chơi ngư i chơi có thể cá cược ( Tố) hoặc không cá cược, nếu có 02 ngư i trở lên có sáp, liêng, ảnh hoặc điểm bằng nhau thì sẽ so bài sáp, liêng, ảnh, điểm ai cao nhất sẽ thắng, nếu điểm bằng nhau thì sẽ so chất t lớn đến bé là theo thứ tự là: Rô, Cơ, Nhép, Bích.

Khi cả 03 ngư i đánh bạc được khoảng 10 phút thì lần lượt có Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q đến và ngồi vào tham gia đánh bạc cùng với hình thức đánh bạc và tỷ lệ cá cược như ban đầu. Khi cả 06 ngư i đang ngồi đánh bạc thì đến khoảng 12 gi 15 phút thì lần lượt có Lò Văn T, Cà Văn N đến và tham gia đánh bạc. Khi 08 ngư i đánh bạc đến khoảng 12 gi 30 phút cùng ngày thì có Lư ng Văn M đến, Món thấy mọi ngư i đang đánh bạc nên cũng vào tham gia đánh bạc cùng với hình thức đánh bạc và tỷ lệ cá cược như ban đầu. Khi 09 ngư i đang đánh bạc đến khoảng 12 gi 45 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên và dẫn giải lên Công an huyện Thuận Châu để xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra làm rõ được tổng số tiền Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M sử dụng vào việc đánh bạc trái phép là: 5.500.000 đồng, trong đó số tiền t ng ngư i sử dụng vào việc đánh bạc và số tiền thắng, thua bạc tại th i điểm bị bắt giữ cụ thể như sau:

- Lò Văn T có 530.000 đồng, T sử dụng toàn bộ số tiền 530.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt giữ T đang thua bạc số tiền 20.000 đồng nên khi bị bắt giữ thu giữ của T số tiền: 510.000 đồng.

- Cà Văn T có 400.000 đồng, T sử dụng toàn bộ số tiền 400.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt giữ T đang thắng bạc số tiền 110.000 đồng nên khi bị bắt giữ thu giữ của T số tiền: 510.000 đồng.

- Quách Văn H có 450.000 đồng, Hồng sử dụng toàn bộ số tiền 450.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt giữ Hồng đang hòa tiền, nên khi bị bắt giữ thu giữ của Hồng số tiền: 450.000 đồng.

- Phạm Văn H trước khi đánh bạc mang theo 6.480.000 đồng, Hưng sử dụng số tiền 1.280.000 đồng vào việc đánh bạc. Còn 5.200.000 đồng Hưng không sử dụng vào mục đ ch đánh bạc. Khi bị bắt giữ Hưng đang thắng bạc số tiền 370.000 đồng, nên khi bị bắt thu giữ của Hưng số tiền 6.850.000 đồng.

- Quàng Văn X có 400.000 đồng, Xoa sử dụng toàn bộ số tiền 400.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt giữ Xoa đang thắng bạc số tiền 80.000 đồng nên khi bị bắt giữ thu giữ của Xoa số tiền: 480.000 đồng.

- Quàng Văn Q có 320.000 đồng, Quân sử dụng toàn bộ số tiền 320.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt giữ Quân đang thắng bạc số tiền 10.000 đồng nên khi bị bắt giữ thu giữ của Quân số tiền: 330.000 đồng.

- Lò Văn T có 300.000 đồng, Tươi sử dụng toàn bộ số tiền 300.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt giữ Tươi đang thua bạc số tiền 90.000 đồng nên khi bị bắt giữ thu giữ của Tươi số tiền: 210.000 đồng.

- Cà Văn N có 1.320.000 đồng, Ngôn sử dụng toàn bộ số tiền 1.320.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt giữ Ngôn đang hòa tiền, nên khi bị bắt giữ thu giữ của Ngôn số tiền: 1.320.000 đồng.

- Lư ng Văn M có 500.000 đồng, Món sử dụng toàn bộ số tiền 500.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt giữ Món đang thua bạc số tiền 460.000 đồng nên khi bị bắt giữ thu giữ của Món số tiền: 40.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKS- HS ngày 28/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La truy tố các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh đã nêu ở trên. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M phạm tội: Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Quách Văn H, Phạm Văn H, Cà Văn N mỗi bị cáo t 8 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Mỗi bị cáo được khấu tr đi 6 ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ.

Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Quách Văn H được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái nhận được quyết định thi hành án.

Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Phạm Văn H được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án.

Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Cà Văn N được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lư ng Văn M t 8 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Khấu tr đi 6 ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lò Văn T cho UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Lò Văn T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện Thuận Châu giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Cà Văn T, Quàng Văn X, Lư ng Văn M cho UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo Cà Văn T, Quàng Văn X, Lư ng Văn M có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục các bị cáo.

Giao bị cáo Quàng Văn Q cho UBND xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Quàng Văn Q có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Lò Văn T cho UBND xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Lò Văn T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Cà Văn N cho UBND xã C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Cà Văn N có trách nhiệm phối hợp với xã C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Quách Văn H cho UBND xã M, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Quách Văn H có trách nhiệm phối hợp với xã M, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Phạm Văn H cho UBND xã Đ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Phạm Văn H có trách nhiệm phối hợp với xã Đ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu tr một phần thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M được quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Phạm Văn H phải có trách nhiệm bồi thư ng cho Công ty TNHH T số tiền 1.080.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: Một bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài qua sử dụng cũ + Một chiếc v giả da màu đen, mặt trước có gắn ký tự GUCCI, đã qua sử dụng cũ + Một phong bì cũ gửi giám định.

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 5.500.000 đồng.

- Tuyên trả lại cho Công ty TNHH T số tiền: 5.200.000 đồng và một chiếc chiếu nhựa k ch thước 1,6m x 2m màu đỏ trắng ghi đã qua sử dụng cũ.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn T, Quàng Văn Q, Lò Văn T.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Các bị cáo Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Cà Văn N, Lư ng Văn M phải chịu án ph hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn H phải chịu án dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Các bị cáo đều nhất tr với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì thêm. L i nói sau cùng các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M đều xin cho các bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành ngư i công dân tốt có ch cho gia đình và cộng đồng xã hội và xin miễn khấu tr thu nhập, xin miễn hình phạt bổ sung. Các bị cáo Lò Văn T, Quàng Văn Q, Lò Văn T xin miễn án ph .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, nguyên đơn dân sự đồng th i là ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nguyên đơn dân sự đồng th i là ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH T do ông Đàm Thanh T- Giám đốc là đại diện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo đều đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M: Ngày 15/12/2023 tại phòng nghỉ khu công nhân của Công ty TNHH T bản Công Mư ng, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi Liêng sát phạt nhau bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là: 5.500.000 đồng.

Xét hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật bởi: Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi Liêng sát phạt nhau bằng tiền tại phòng nghỉ công nhân của Công ty TNHH T với mục đ ch tư lợi cá nhân, bị pháp luật nghiêm cấm. Như vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên l i khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. L i khai của các bị cáo phù hợp với: L i khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, biên bản phạm tội quả tang ngày 15/12/2023, Quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác. L i khai của bị cáo Phạm Văn H hoàn toàn phù hợp với l i khai, đơn đề nghị của Công ty TNHH T.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M thuộc trư ng hợp t nghiêm trọng. Các bị cáo biết đánh bạc là hành vi bị Nhà nước nghiêm cấm, mặc dù số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn nhưng đã xâm phạm đến trật tự công cộng, tài sản của công dân, trật tự an toàn xã hội mà trực tiếp là xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội, là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy cần lên một mức án mức án tương xứng với hành vi phạm tội của t ng bị cáo mới đảm bảo T nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò của các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T, Cà Văn N đều phạm tội lần đầu, thuộc trư ng hợp t nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M đều làm công nhân khai thác mỏ đá theo mùa vụ, thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, đều là lao động ch nh trong gia đình được ch nh quyền địa phương xác nhận. Các bị cáo Lò Văn T, Quàng Văn Q, Lò Văn T là ngư i dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo Quàng Văn Q, Cà Văn T không biết chữ, các bị cáo Quách Văn H, Lò Văn T trình độ văn hóa thấp, trình độ hiểu biết pháp luật có phần hạn chế là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M không có tiền án, tiền sự, luôn chấp hành tốt ch nh sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú.

Về vị trí vai trò của các đồng phạm: Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M phạm tội thuộc trư ng hợp đồng phạm giản đơn trong tội đánh bạc, bị cáo Lò Văn T là ngư i khởi xướng, rủ rê, là ngư i chuẩn bị công cụ để thực hiện hành vi đánh bạc. Các bị cáo không có sự tổ chức, phân công, câu kết chặt chẽ, cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là những ngư i đồng phạm cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần vận dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để cá thể hóa mức hình phạt đối với các bị cáo.

Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M đều có đơn xin được hưởng án phạt cải tạo không giam giữ có bảo lãnh của gia đình, có xác nhận của ch nh quyền địa phương, l i đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát thấy rằng: Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chấp hành tốt ch nh sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú; đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đều có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên; đều có nơi cư trú rõ ràng, ổn định để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục; xét thấy không cần cách ly ra ngoài xã hội bởi các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án mức án cải tạo không giam giữ không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cho các bị cáo cơ hội cải tạo ngoài cộng đồng cũng đảm bảo T răn đe, giáo dục và phòng ng a tội phạm nói chung, đồng th i cũng thể hiện ch nh sách pháp luật nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, thể hiện đư ng lối xét xử nghiêm trị kết hợp giáo dục, cải tạo và các bị cáo phải chịu sự giám sát cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình. Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M bị bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 là 06 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Th i gian bắt, tạm giữ được tr vào th i gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, do các bị cáo được Tòa án tuyên hình phạt ch nh là cải tạo không giam giữ cho nên mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải được hủy bỏ do vậy Hội đồng xét xử Hủy bỏ Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo đảm bảo đúng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với việc khấu tr một phần thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự và hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, xét thấy: Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M đều có điều kiện kinh tế khó khăn, đều làm công nhân khai thác mỏ đá theo mùa vụ, đều là lao động ch nh nuôi sống gia đình, thu nhập thấp, không có tài sản, không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử miễn khấu tr một phần thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M.

Đối với việc sử dụng địa điểm phòng nghỉ công nhân thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH T để đánh bạc, Quá trình điều tra xác định được ông Đàm Thanh Toàn- Giám đốc không biết việc các bị cáo sử dụng phòng nghỉ để đánh bạc và không liên quan đến hành vi đánh bạc, không tổ chức cầm cố tài sản gì cho các bị cáo tham gia đánh bạc, không phân công ngư i canh gác, ngư i phục vụ khi đánh bạc. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về bồi thư ng dân sự: Đối với số tiền 1.080.000 đồng là tiền bị cáo Phạm Văn H dùng vào việc đánh bạc là tiền hàng của Công ty TNHH T. Công ty yêu cầu buộc Phạm Văn H phải bồi thư ng khoản tiền này. Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H nhất tr bồi thư ng cho công ty cần chấp nhận vận dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Về vật chứng: Đối với một bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài qua sử dụng cũ; Một chiếc v giả da màu đen, mặt trước có gắn ký tự GUCCI, đã qua sử dụng cũ; Một phong bì cũ gửi giám định được đựng trong một hòm tôn màu trắng là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam: 5.500.000 đồng là tiền các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M dùng vào việc phạm tội cần tuyên tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 5.200.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Văn H, bị cáo khai nhận là tiền hàng của Công ty TNHH T, bị cáo Hưng để trong v chưa kịp trả lại cho công ty và không sử dụng số tiền này vào mục đ ch đánh bạc. Quá điều tra xác định được, số tiền trên là tiền hàng của Công ty TNHH T. Đối với một chiếc chiếu nhựa k ch thước 1,6m x 2m màu đỏ trắng ghi đã qua sử dụng cũ. Xét thấy đây là những tài sản của Công ty TNHH T, công ty có yêu cầu được trả lại cần tuyên trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ, đúng pháp luật.

( Căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự ).

Về án ph : Các bị cáo Lò Văn T, Quàng Văn Q, Lò Văn T là ngư i dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn T, Quàng Văn Q, Lò Văn T.

Các bị cáo Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Cà Văn N, Lư ng Văn M phải chịu án ph hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Bị cáo Phạm Văn H phải chịu án dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M phạm tội: Đánh bạc.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư i tám) ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Lò Văn T được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lò Văn T cho UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Lò Văn T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Cà Văn T 08 (Tám) cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Cà Văn T được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn X 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư i tám) ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Quàng Văn X được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Cà Văn T, Quàng Văn X cho UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo Cà Văn T, Quàng Văn X có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q 08 ( Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư i tám) ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Quàng Văn Q được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Quàng Văn Q cho UBND xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Quàng Văn Q có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư i tám) ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Lò Văn T được tính t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lò Văn T1 cho UBND xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Lò Văn T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Quách Văn H 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư i tám) ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Quách Văn H được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Quách Văn H cho UBND xã M, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Quách Văn H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã M, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư i tám) ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Phạm Văn H được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Phạm Văn H cho UBND xã Đ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Phạm Văn H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Đ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Cà Văn N 08 ( Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư i tám) ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Cà Văn N được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Cà Văn N cho UBND xã C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Cà Văn N có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lư ng Văn M 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu tr đi 06 (Sáu) ngày bắt, tạm giữ t ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bằng 18 (Mư i tám) ngày cải tạo không giam giữ. Th i hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được T t th i điểm Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lư ng Văn M cho UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong th i gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Lư ng Văn M có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu tr một phần thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M được quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Phạm Văn H phải có trách nhiệm bồi thư ng cho Công ty TNHH T số tiền 1.080.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài tạm giữ tại vị tr nơi các đối tượng ngồi đánh bạc. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 025956, trên giấy niêm phong có điểm chỉ ngón trỏ tay phải của Quàng Văn Q, chữ ký, họ tên, của ngư i bị bắt và 02 hình dấu đỏ của UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

+ Một phong bì màu trắng của Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn T cùng đồng phạm - Đánh bạc, bắt ngày 15/12/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 025958, trên giấy niêm phong có điểm chỉ ngón trỏ tay phải của Quàng Văn Q, chữ ký, họ tên, của ngư i bị bắt, các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, tại các mép trái, phải của phong bì dán băng d nh màu trắng. Bên trong có: 16 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

+ Một chiếc v giả da màu đen, mặt trước có gắn ký tự GUCCI, đã qua sử dụng cũ, tạm giữ dưới đệm ngủ trên giư ng ph a sau vị tr Phạm Văn H ngồi đánh bạc.

+ Một phong bì cũ gửi giám định được đựng trong một hòm tôn màu trắng có k ch thước 27cm x 20cm x 12cm và đóng nắp khóa hòm bằng khóa sắt màu vàng, nhãn hiệu VIỆT NHẬT, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 025597, 025598. Tại phần mặt trên nắp hòm dùng băn d nh trong suốt dán 01 t giấy trắng k ch thước 21cm x5cm ghi dòng chữ “Vật chứng vụ án đánh bạc xảy ra tại bản Công Mư ng, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ngày 15/12/2023”.

- Tuyên trả lại cho Công ty TNHH T:

+ Một chiếc chiếu nhựa k ch thước 1,6m x 2m màu đỏ trắng ghi đã qua sử dụng cũ.

+ Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng).

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam: 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).

Toàn bộ số tiền 10.700.000 đồng (Mư i triệu bảy trăm nghìn đồng) trên được đựng trong một hòm tôn màu trắng có k ch thước 27cm x 20cm x 12cm và đóng nắp khóa hòm bằng khóa sắt màu vàng, nhãn hiệu VIỆT NHẬT, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 025597, 025598. Tại phần mặt trên nắp hòm dùng băn d nh trong suốt dán 01 t giấy trắng k ch thước 21cm x5cm ghi dòng chữ “Vật chứng vụ án đánh bạc xảy ra tại bản Công Mư ng, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ngày 15/12/2023”.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).

4. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn T, Quàng Văn Q, Lò Văn T.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Cà Văn N, Lư ng Văn M phải chịu án án hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Bị cáo Phạm Văn H phải chịu án dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn T, Quách Văn H, Phạm Văn H, Quàng Văn X, Quàng Văn Q, Lò Văn T1, Cà Văn N, Lư ng Văn M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự đồng th i là ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công ty TNHH T được quyền kháng cáo phần bồi thư ng thiệt hại và phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sơn La;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (02 bản);

- Sở Tư pháp các tỉnh : Sơn La, Yên Bái, Ninh Bình;

- Ủy ban kiểm tra huyện ủy Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La;

- Chi cục THADS huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La;

- Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La;

Lường Tiến Hải

- Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái;

- Công an huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;

- UBND các xã: Tông Cọ, Tông Lạnh, Chiềng Pấc,B Phặng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La;

- UBND xã C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La;

- UBND xã M, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái;

- UBND xã Đ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình;

- Các bị cáo;

- Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ;

Cỡ chữ