vanban.org

Bản án 56/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Buộc các bị cáo Hoàng Thị H, Phạm Thị H1 phải thực hiện lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian Cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự. Giao bị cáo H cho UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Giao bị cáo H1 cho UBND xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị H và Đồng Phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST
Ngày: 25 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH -TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Kim Hoa

2. Ông Trần Quốc Đấu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/QĐST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Thị H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1982 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Hữu Đ và bà: Trần Thị T (Chết); Chồng: Nguyễn Ngọc T1 (Đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự, Không; Nhân thân: Ngày 27/07/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt tiền 28.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/12/2018; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Thị H1; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 05 tháng 07 năm 1988 tại: huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Đức L và bà: Đỗ Thị D; Chồng: Phạm Thanh T2, sinh năm 1987; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 17/01/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt tiền 35.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt ngày 14/9/2022. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 04/01/2024 được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Thị Hương T3; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 3 năm 1993 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: K, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Công H2 và bà: Lưu Thị L1; Chồng: Hà Chí C, sinh năm 1983 (Đã ly hôn); Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Trần Duy C1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 7 năm 1987 tại huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: K, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Duy V và bà: Nguyễn Thị M; Vợ: Nguyễn Thị Thùy D1, sinh 1989; Con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024 được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết với nhau nên vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, Phạm Thị H1, Trần Duy C1, Nguyễn Thị Hương T3, đến nhà Hoàng Thị H, ở tại phòng A, Tòa nhà C, Chung cư T, khối T, phường H, thành phố V chơi. Tại đây, H, H1, C1 và T3 cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Xiểng” (Bài tiến lên M) được thua bằng tiền, các đối tượng thống nhất đặt cược thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 250.000 đồng, đút 3 bích số tiền 250.000 đồng, H là người lấy ra hai bộ bài để các đối tượng đánh bạc. Đến 14 giờ 15 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc với nhau thì bị tổ công tác Đ1 Công an thành phố V kiểm tra hành chính phát hiện thu trên chiếu bạc tổng số tiền 5.700.000 đồng, thu giữ trong người các đối tượng 10.300.000 đồng; Cụ thể, thu giữ của H số tiền 700.000 đồng tại vị trí phía trước ngồi đánh bạc và 5.600.000 đồng trong túi quần bên phải. Thu giữ của C1 số tiền 700.000 đồng tại vị trí phía trước ngồi đánh bạc. Thu giữ của H1 số tiền 4.300.000 đồng tại vị trí phía trước ngồi đánh bạc. Thu giữ trong túi quần bên phải của T3 số tiền 4.700.000 đồng và 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài (Một bộ bài màu xanh, một bộ bài màu đỏ). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng và dẫn giải các đối tượng về trụ sở Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V xác định:

Hoàng Thị H khai nhận khi vào đánh bạc có số tiền 6.600.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc thua số tiền 300.000 đồng. Còn lại số tiền 6.300.000 đồng;

Phạm Thị H1 khai nhận khi vào đánh bạc có số tiền 4.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc thắng số tiền 300.000 đồng. Thu giữ số tiền 4.300.000 đồng trên chiếu bạc;

Nguyễn Thị Hương T3 khai nhận khi vào đánh bạc có số tiền 4.200.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc thắng số tiền 500.000 đồng. Thu giữ số tiền 4.700.000 đồng.

Trần Duy C1 khai nhận khi vào đánh bạc có số tiền 1.200.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc thua số tiền 500.000 đồng. Còn lại số tiền 700.000 đồng trên chiếu bạc.

Như vậy, tổng tang số các đối tượng đánh bạc được xác định là: 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

- Thu giữ tại chiếu bạc 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài (Một bộ bài màu xanh, một bộ bài màu đỏ) đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng thu giữ nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vinh.

- Số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) thu giữ của các bị cáo đã được gửi vào kho bạc nhà nước tỉnh N theo biên bản giao nhận tài sản số 02/2024/BBBG-KBNA (VNĐ) ngày 08/01/2024.

Tại Bản cáo trạng số 45/CT-VKS-TPV ngày 25 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố: Hoàng Thị H, Phạm Thị H1, Nguyễn Thị Hương T3, Trần Duy C1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Thị H từ 18 (mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng Cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị H1 từ 18 (mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng Cải tạo không giam giữ.

Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo H, H1. Buộc bị cáo H, H1 phải thực hiện lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Duy C1 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị Hương T3 từ 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài (Một bộ bài màu xanh, một bộ bài màu đỏ); Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 16.000.000 đồng đồng (mười sáu triệu đồng) thu giữ của các bị cáo.

- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Xiểng” được thua bằng tiền như Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng; biên bản bắt, khám xét; vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 15 giờ ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại phòng 1701, Tòa nhà C, Chung cư T, khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Hoàng Thị H, Phạm Thị H1, Nguyễn Thị Hương T3, Trần Duy C1 đánh bạc với nhau, bằng hình thức đánh “Xiểng”, được thua bằng tiền, thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang. T4 tại chiếu bạc 5.700.000 đồng, thu trong người các đối tượng 10.300.000 đồng. Tổng tang số các đối tượng đánh bạc được xác định là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Vì vậy, hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Xiểng” được thua bằng tiền mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến an ninh trật tự công cộng, đạo đức, lối sống cộng đồng. Các bị cáo đều nhận thức được đánh bạc là tội phạm thuộc tệ nạn xã hội nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm để giáo dục, răn đe các bị cáo.

Vụ án có đồng phạm nhưng thuộc loại giản đơn, các bị cáo đều tham gia đánh bạc nên có vai trò tương đương nhau nên cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để lên mức án phù hợp.

Đối với Hoàng Thị H, Phạm Thị H1 đều có nhân thân xấu, nhưng xét trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo H có bố có công với cách mạng là thương binh; Bị cáo H1 trong quá trình sinh sống tại địa phương đã tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện có xác nhận của chính quyền địa phương và gia đình bị cáo H1 có ông bà có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến nên các bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm. Do các bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo. Buộc các bị cáo phải thực hiện lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Đối với Nguyễn Thị Hương T3, Trần Duy C1 sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân nên các bị cáo đều được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T3 là vận động viên thể dục thể thao đã có nhiều thành tích xuất sắc, đạt nhiều huy chương vàng, bạc toàn quốc được Tổng cục thể dục thể thao chứng nhận nên bị cáo T3 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền các bị cáo cũng đủ nghiêm.

. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính là phạt tù còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài (Một bộ bài màu xanh, một bộ bài màu đỏ) do các bị cáo sử dụng làm công cụ đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) thu giữ của các bị cáo do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Thị H 21 (hai mươi mốt) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” nhưng được trừ đi 03 (ba) ngày bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 01/01/2024. Quy đổi 03 (ba) ngày tạm giữ thành 09 (chín) ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là 20 (hai mươi) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày Cải tạo không giam giữ.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị H1 21 (hai mươi mốt) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” nhưng được trừ đi 06 (sáu) ngày bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023 đến ngày 04/01/2024. Quy đổi 06 (sáu) ngày tạm giữ thành 18 (mười tám) ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là 20 (hai mươi) tháng 12 (mười hai) ngày Cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Buộc các bị cáo Hoàng Thị H, Phạm Thị H1 phải thực hiện lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian Cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Giao bị cáo H cho UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Giao bị cáo H1 cho UBND xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Hương T3 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Duy C1 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài (Một bộ bài màu xanh, một bộ bài màu đỏ) hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK2024/97 ngày 20/02/2024

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) hiện có tại Kho bạc Nhà nước N theo Biên bản giao nhận tài sản số 02/2024/BBBG-KBNA(VNĐ) ngày 08/01/2024 và Phiếu nhập kho ngày 08/01/2024.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo Hoàng Thị H, Phạm Thị H1, Nguyễn Thị Hương T3, Trần Duy C1 phải chịu 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ