- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Công H1 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Công H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày: 20-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Nguyễn Hà Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lý.
2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Quách Diệp Nguyệt Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 339/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Công H1, sinh năm: Z, tại: Thành phố H; hộ khẩu thường trú: Tổ X, ấp C, xã V, H2ện B, Thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Kh và bà Nguyễn Thị Bích D; Chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 20/7/2023; (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 19/7/2023, Công an Phường 13, quận Gò Vấp kết hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân khám xét nơi ở của Trần Minh H1 tại nhà số M đường N, Phường B, quận V. Tại đây gồm có: Trương Công H1, Nguyễn Thị Cẩm X1, Trần Thanh T1. Qua khám xét, Công an thu giữ: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu ở dưới nền nhà phòng ngủ ngay cạnh cầu thang lầu 2. Trương Công H1 khai nhận là ma túy của Trương Công H1 dùng để sử dụng cho bản thân nên Công an thu giữ vật chứng, đưa Trương Công H1 về trụ sở Công an Phường 13, quận Gò Vấp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, toàn bộ vụ việc được cH2ển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định Trương Công H1 được Trần Minh H1 thuê làm nhân viên dọn dẹp khách sạn và được Trần Minh H1 cho ở tại nhà số M đường N, Phường B, quận V. Do nghiện ma túy, Trương Công H1 được bạn tên Q1 (không rõ lai lịch) cho 01 gói ma túy tổng hợp tại một cà phê không rõ địa chỉ ở quận T. Sau đó, Trương Công H1 cất giữ gói ma túy trong bóp để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ ngày 19/7/2023, Trương Công H1 vào phòng ngủ của Trần Minh H1 ở ngay cạnh cầu thang lầu 2, Trương Công H1 lấy ma túy bỏ vào nỏ thủy tinh sử dụng một mình, số ma túy còn lại Trương Công H1 để quên ở dưới nền nhà. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, Công an khám xét nơi ở của Trần Minh H1, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Còn H1 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân đưa về Công an quận Bình Tân để điều tra làm rõ và xử lý hành vi phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
Vật chứng của vụ án:
- 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Công H1 và hình dấu Công an Phường 13, quận Gò Vấp. Căn cứ Kết luận giám định số 7946/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Công H1 và hình dấu Công an Phường 13, quận Gò Vấp (Ký hiệu mẫu m) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 1,6858g (một phẩy sáu tám năm tám gram), loại Methamphetamine.
- 01 nỏ thủy tinh.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 089****575 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 058****436 là tài sản cá nhân của Trương Công H1, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Toàn bộ số vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp nhập kho vật chứng theo PHIẾU nhập kho vật chứng số 194/PNK ngày 27/9/2023.
Đối với Trần Thanh T1 và Nguyễn Thị Cẩm X1 khai việc Trương Công H1 tàng trữ ma túy để sử dụng thì T1 và X1 không biết, qua xét nghiệm chất ma túy thì T1 và X1 có kết quả âm tính với chất ma túy. Lời khai của X1 và T1 phù hợp với lời khai của bị cáo nên không đủ cơ sở xác định T1, X1 đồng phạm với bị cáo.
Đối với Trần Minh H1 khai nhận có thuê H2 trông coi nhà số M đường N, Phường B, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng H1 có về nhưng không thường xuyên. Việc H2 cất giấu ma túy trong phòng thì H1 không biết, không thấy, chỉ đến khi Công an khám xét phòng ngủ của H1 phát hiện gói ma túy mà H2 khai nhận là của H2 thì H1 mới biết và chứng kiến sự việc.
Đối tượng tên Q1 đã cho H2 ma túy thì H2 không rõ nhân thân, lai lịch của H2, không nhớ địa chỉ của Q1, số điện thoại cũng như địa chỉ nơi Q1 cho H2 ma túy nên không có căn cứ xử lý đối tượng này.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-GV, ngày 21/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Trương Công H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trương Công H1 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ; 01 nỏ thủy tinh.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 089****575 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 058****436.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm tội quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/7/2023, tại nhà số M đường N, Phường B, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh, Trương Công H1 đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 1,6858 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 08/CT-VKS-GV, ngày 21/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán... trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập để học tập phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không có.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với ma túy thu giữ qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 nỏ thủy tinh là công cụ để sử dụng ma túy Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 089****575 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 058****436 là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Đối với Trần Thanh T1 và Nguyễn Thị Cẩm X1 khai việc Trương Công H1 tàng trữ ma túy để sử dụng thì T1 và X1 không biết, qua xét nghiệm chất ma túy thì T1 và X1 có kết quả âm tính với chất ma túy. Lời khai của X1 và T1 phù hợp với lời khai của bị cáo nên không đủ cơ sở xác định T1, X1 đồng phạm với bị cáo.
Đối với Trần Minh H1 khai nhận có thuê bị cáo trông coi nhà số M đường N, Phường B, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng H1 có về nhưng không thường xuyên. Việc bị cáo cất giấu ma túy trong phòng thì H1 không biết, không thấy, chỉ đến khi Công an khám xét phòng ngủ của H1 phát hiện gói ma túy mà bị cáo khai nhận thì H1 mới biết và chứng kiến sự việc. Lời khai của H1 phù hợp với lời khai của bị cáo nên không đủ cơ sở xác định H1 đồng phạm với bị cáo.
Đối với đối tượng tên Q1 đã cho H2 ma túy thì H2 không rõ nhân thân, lai lịch của H2, không nhớ địa chỉ của Q1, số điện thoại cũng như địa chỉ nơi Q1 cho H2 ma túy nên không có căn cứ truy tìm, xử lý đối tượng này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trương Công H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trương Công H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/7/2023.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Công H1 và hình dấu Công an phường 13, quận Gò Vấp, bên trong còn ma túy giám định; 01 (một) nỏ thủy tinh.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 089****575 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 058****436.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 194/PNK ngày 27/9/2023 của Công an quận Gò Vấp)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp; - Thi hành án Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Nguyễn Hà Hải |