vanban.org

Bản án 56/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng Hình sự,

Sửa một phần bản án sơ thẩm: 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng Hình sự,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-PT
Ngày: 24-01-2024

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành

Ông Nguyễn Thanh Nhã

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm -

Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố

Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1038/2023/TLPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 102/2023/HS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

NGUYỄN VĂN T, sinh ngày 12/01/19XX tại T B; ĐKHKTT: Thôn

T Đ, xã Đ B S, huyện T Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường P L, quận H Đ, TP Hà Nội, nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hóa: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc P và bà Nguyễn Thị T; có vợ Lê Thị Mỹ A (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Bản án số 42/2012/HSST ngày 22/8/2012, TAND huyện Tuy Đức,

tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Bản án số 07/2016/HSST ngày 29/02/2016, TAND huyện Tuy

Đức, tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/4/2023, Nguyễn Văn T sinh năm

19XX, trú tại Tổ dân phố số X, phường P L, quận H Đ, thành phố Hà Nội mượn chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu KIA Frontier BKS 29H-799.XX của anh Nguyễn Văn M sinh năm 19XX, trú cùng tổ dân phố để chở tấm nhựa đến tòa nhà M1B khu đô thị Thanh Hà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. T điều khiển xe ô tô từ nhà anh Minh đến đường Cienco5 rồi rẽ trái vào đường nối đường Cienco5 với điểm cung ứng thực phẩm Thanh Hà. Khoảng 09 giờ 10 phút, khi đi đến cách ngã tư giao cắt giữa đường của T đang đi và đường nối tòa nhà HH02-1A khu đô thị Thanh Hà với đường Cienco5 khoảng 15-20 mét, T phát hiện thấy chị Mai Thị M, sinh năm 19XX trú tại Xóm X, xã X T, huyện X T, tỉnh Nam Định điều khiển xe mô tô biển số 70F1-494.XX đã đi đến điểm giao nhau giữa ngã tư, hướng đi theo trục đường ngang với đường T đang đi với vận tốc khoảng 35-40 km/h. T nghĩ với khoảng cách và tốc độ như vậy sẽ đi qua ngã tư trước chị M nên T vẫn giữ nguyên tốc độ và chiều hướng di chuyển. Khi xe T di chuyển đến giữa ngã tư thì đâm ngang vào xe mô tô do chị M điều khiển rồi kéo rê chiếc xe mô tô của chị M khoảng 10 mét.

Hậu quả: Chị Mai Thị M bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện

Quân y 103, đến ngày 24/4/2023 đã bị tử vong; xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.

* Về vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Frontier BKS 29H-799.XX màu trắng; 01

giấy biên nhận thế chấp đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 02 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô đều mang tên Nguyễn Văn M;

- 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Văn T.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS 70F1-

494.XX; 01 đăng ký xe và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô đều mang tên Hà Văn L.

* Về việc khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông:

- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là ngã tư giao cắt giữa

một đường đi đô thị Thanh Hà đi ra điểm cung cấp thực phẩm Thanh Hà với đường đi ra khu 6 tòa HH02-1A đi ra đường trục phía Nam Hà Nội.

- Đường hướng từ khu đô thị Thanh Hà đi ra điểm cung cấp thực

phẩm Thanh Hà có chiều rộng 650cm.

- Hướng đường từ khu 6 tòa HH02-1A đi ra đường trục phía Nam

rộng 1370cm.

- Chọn mép đường phải của đường từ khu đô thị Thanh Hà đi ra

điểm cung cấp thực phẩm Thanh Hà là mép đường chuẩn. Chọn biển báo “cấm đi ngược chiều” tại chiều đường này là mốc chuẩn. Các số đo được đo vào mép đường chuẩn như sau:

+ 01 vết chùm cày xước mài mòn đường do xe mô tô BKS: 70F1-

494.XX để lại có hướng khu đô thị Thanh Hà đi điểm cung cấp thực phẩm được kí hiệu (01). Điểm đầu vết gần giữa khu vực ngã tư giao cắt. Đầu 01 đo vào mép đường phải là 450cm, đo tương tự của (01) trùng với vùng để chân trước trái, sau trái xi nhan BKS: 70F1-494.XX vào mép đường phải là 294cm. Vết (01) có diện (1690x35) cm.

+ Vị trí xe ô tô BKS: 29H-799.XX được kí hiệu (02), xe đang dừng

đỗ giữa lòng đường hướng khu đô thị Thanh Hà đi điểm cung cấp thực phẩm Thanh Hà. Đo trục bánh sau phải vào mép đường là 208cm, đo tương tự trục trước phải vào là 173cm.

+ Vùng máu, quần áo nạn nhận được kí hiệu (03), nằm gần phía sau

trái xe ô tô BKS: 29H-799.XX. Đo từ điểm xa nhất vết (03) vào mép đường phải là 585cm. Vết (03) có diện (210x180) cm.

+ Xe mô tô BKS:70F1-494.XX được kí hiệu (04) xe nằm đỗ về bên

trái, đầu xe chếch vào mép đường phải. Do trục bánh trước với mép đường phải là 215cm, đo tương tự trục bánh sau là 335cm.

- Số đo vuông góc như sau: Đo vuông góc từ mốc chuẩn, cột biển

báo “cấm đi ngược chiều” có hướng đi ra điểm cung cấp thực phẩm Thanh Hà đến trục bánh sau xe mô tô mang BKS: 70F1-494.XX là 430cm. Đo vuông góc trục xe mô tô mang BKS: 70F1-494.XX đến trục phải xe ô tô BKS: 29H-799.XX là 350 cm. Đo vuông góc từ trục sau phải xe ô tô BKS: 29H-799.XX đến tâm (03) là 75cm. Đo vuông góc từ tâm (03) đến đầu vết (01) là 1300cm. Đo vuông góc đến vết 01 đến mép đường phải là 485cm.

* Về việc khám nghiệm tử thi chị Mai Thị M:

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 145/QĐ-CSĐT ngày 24/4/2023

về việc trưng cầu nguyên nhân chết đối với nạn nhân Mai Thị M. Do gia đình chị M từ chối mổ tử thi nên cơ quan điều tra đã tiến hành khám, ghi nhận các dấu vết ngoài tử thi. Cụ thể như sau:

+ Vùng đỉnh trái có vết trượt xước da trong diện (2,5x1)cm gần nhất

cách khung tai trái 7,5cm qua sờ nắn tại dấu vết phần xương lõm, lạo xạo.

+ Vùng đuôi lông mày, đuôi mắt phải có dấu vết bầm tím, trượt xước

da trong diện (6x3)cm.

+ Phía trước vùng ngực phải có nhiều vết thủng, bầm tím (dịnh máu

chảy ra) là vết tiêm truyền dịch quá trình điều trị.

+ Tại khu vực xương đòn phải qua sờ nắn thấy có vết gãy kín.

+ Tại mặt ngoài khuỷu tay trái có vết bầm tím, xước da trong diện

(7x10)cm.

+ Tại vùng mông, mạn sườn trái có vết trượt xước da, chảy máu

trong diện (7x14)cm. Điểm gần nhất cách rốn 20cm.

* Về kết luận giám định dấu vết va chạm:

Tại Bản kết luận giám định số: 4030/KL-KTHS ngày 09 tháng 6

năm 2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận như sau:

“- Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe ôtô biển số 29H-

799.98 với xe môtô biển số 70F1-494.XX:

+ Dấu vết trượt xước, mất chất màu trắng, bám dính chất màu đen ở

bên trái ốp kim loại đầu xe ôtô biển số 29H-799.XX có chiều từ trái sang phải (ảnh 7 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng, mất chất màu đen ở đầu tay lái bên phải xe mô tô biển số 70F1-494.XX (ảnh 8 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm ở xe môtô biển số 70F1- 494.XX tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

+ Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài phía dưới khung kim loại bên trái

đầu xe ôtô biển số 29H-799.XX có chiều từ trước về sau (ảnh 11 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước, hằn kim loại ở ốp ống xả bên phải xe môtô biển số 70F1- 494.XX (ảnh 12 trong bản ảnh giám định) khi xe môtô này đã đổ nằm nghiêng bên trái xuống mặt đường. Dấu vết va chạm ở xe môtô biển số 70F1-494.XX tại vị trí này có chiều từ phải sang trái.

- Các dấu vết còn lại ở xe ôtô biển số 29H-799.XX và xe mô tô biển

số 70F1-494.XX được ghi nhận trong Biên bản khám phương tiện liên quan đến tại nạn giao thông của Công an huyện Thanh Oai hiện tại không đủ yếu tố giám định so sánh.

- Căn cứ vào tài liệu gửi giám định: Vị trí va chạm giữa xe ôtô biển

số 29H- 799.XX và xe môtô biển số 70F1-494.XX ở trước chùm vết cày xước mài mòn đường ký hiệu số 01 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường) thuộc khu vực ngã tư giao nhau giữa đường đi từ khu đô thị Thanh Hà đến Điểm cung cấp thực phẩm Thanh Hà với đường đi từ Khu 6 tòa HH02 -1A đến đường trục phía nam Hà Nội.”.

* Về việc xác định nồng độ cồn của lái xe Nguyễn Văn T:

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định nồng độ cồn của Nguyễn Văn

T vào ngày 21/4/2023, kết quả nồng độ cồn là: 0000mg/1.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 102/2023/HS-ST ngày 17 tháng 11

năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2

Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền

kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/11/2023 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm

nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của

mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo với lý do bố, mẹ già, hai con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt

nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhân thân của bị cáo, xem xét kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm. Cụ thể: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Các quyết định khác có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án

đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đúng về

mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại

phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các bản kết luận giám định, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 21/4/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Frontier BKS: 29H-799.XX đi đến ngã tư giao cắt giữa đường nối đường Cienco5 với điểm cung cấp thực phẩm Thanh Hà và đường nối tòa nhà HH02-1A với đường Cienco5. Do T không giảm tốc độ mà vẫn giữ nguyên tốc độ và chiều hướng di chuyển nên xe ô tô do T điều khiển đâm ngang vào xe mô tô BKS: 70F1-494.XX do chị Mai Thị M điều khiển, hậu quả làm chị M bị tử vong, hai xe bị hư hỏng. Hành vi của Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô đi qua khu vực ngã tư giao cắt đồng mức không nhường đường, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn theo quy định dẫn đến tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng làm 01 người chết đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông Vận tải. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã bị Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt,

được hưởng án treo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án, xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau tai nạn đã tích cực bồi thường thiệt hại cho đại diện người bị hại, đại diện người bị hại đã nhận đủ tiền và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã xử phạt tù giam đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng quy định của pháp luật, mới có tác dụng đấu tranh, răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này, do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T. Tuy nhiên cấp sơ thẩm đã xử phạt 18 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn T là còn quá nghiêm khắc; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, duy nhất trong gia đình; bố mẹ già, yếu, hai con còn nhỏ. Do vậy nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm hòa nhập với gia đình và xã hội thành công dân có ích cho xã hội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo kháng cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận nên không phải

chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ

luật tố tụng Hình sự,

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp án phí hình sự

phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ