vanban.org

Bản án 56/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:56/2023/HSST
Ngày:14/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quý Minh Ánh.

2. Ông Nguyễn Hồng Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc-Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2023, tại Trụ sở Uỷ ban nhân phường Nam Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:43/2023/QĐXX-ST ngày 27/02/2023 đối với bị cáo:

Phan Văn H, sinh năm 1986; tại Hà Nội; Trú tại: Thôn 9, xã HK, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động Tự do; trình độ văn hóa lớp: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn T và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là: Mai Thị G; vợ chồng bị cáo có 03 con chung (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022).

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 14/10/2018 có hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 14/2019/HSST ngày 14/3/2019;

Ngày 15/10/2018 có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 20/2019/HSST ngày 19/3/2019. Tổng hợp hình phạt cho hai bản án là 36 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của hai bản án vào ngày 12/5/2021 nên chưa được xoá án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”.

Nhân thân: Ngày 17/01/2012 bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc theo Quyết định số 134 ngày 13/01/2012 của Uỷ ban nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, đến ngày 17/01/2014 thì trở về địa phương. Ngày 18/11/2016 bị Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Năm 2015 bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 116/2015/HSST ngày 31/7/2015.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, giam từ ngày 04/10/2022 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên toà).

*Người chứng kiến:

1. Ông Lê Hồng T, sinh năm 1965;

Trú tại: Tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 04/10/2022, tổ công tác Công an thành phố Phổ Yên đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện tại hành lang bên phải đường Quốc lộ 3 cũ theo hướng Hà Nội đi Thái Nguyên có đối tượng là nam giới (sau xác định là Phan Văn H) có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra,H đã tự nguyện lấy từ trong lòng bàn tay phải ra 05 (năm) gói giấy, bên trong mỗi gói đều chứa chất rắn màu trắng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận số chất rắn màu trắng trên là ma tuý (loại Heroine) của H,H mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an thành phố Phổ Yên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành cân khối lượng chất rắn màu trắng thu giữ của Phan Văn H được 1,829 gam, cho toàn bộ vào phong bì niêm phong ký hiệu E gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1605/KL-KTHS ngày 12/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng trong phong bì ký hiệu E gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng là 1,829 gam.

Quá trình điều tra, Phan Văn H khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/10/2022,H đi xe bus từ Sóc Sơn, Hà Nội đến khu vực tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên mục đích để mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến tổ dân phố KT,H xuống xe và đi đến trước cửa một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín bên phải hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Hà Nội đi Thái Nguyên.H cầm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đưa qua khe cửa vào bên trong ngôi nhà, có người trong nhà cầm tiền rồi đưa ra choH qua khe cửa đó 05 (năm) gói Heroine. Mua được ma tuý,H cầm ma tuý trong tay phải chuẩn bị đi về thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, niêm phong số ma tuý như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT - VKSPY ngày 13/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phan Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Phan Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo đã thừa nhận ngày 04/10/2022 đã có hành vi tàng trữ 1,829 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác.

Kết thúc thẩm vấn đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phan Văn H từ 36 đến 42 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu E ghi hoàn trả 1,820 gam mẫu E còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu L ghi mẫu lưu kho của Phan Văn H; về án phí: Buộc bị cáoH phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Phần tranh luận: Bị cáoH không tranh luận gì. Nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của những người chứng kiến: Tại phiên tòa người chứng kiến ông Lê Hồng T vắng mặt. Bị cáoH, Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị xét xử. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của người chứng kiến không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáoH tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như lời khai của người người chứng kiến, bản kết luận giám định chất ma tuý và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Phan Văn H là đối tượng nghiện ma tuý, vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/10/2022,H đi xe bus từ Sóc Sơn, Hà Nội đến khu vực tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên mục đích để mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến tổ dân phố Kim Tỉnh,H xuống xe và đi đến trước cửa một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín bên phải hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Hà Nội đi Thái Nguyên.H cầm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đưa qua khe cửa vào bên trong ngôi nhà, có người trong nhà cầm tiền rồi đưa ra choH qua khe cửa đó 05 (năm) gói Heroine cân trọng lượng được 1,829 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Như vậy hành vi nêu trên của Phan Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a...

c)Heroin… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Xét tính chất vụ án, nguyên nhân, động cơ, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Xuất phát từ việc nghiện ma tuý, bị cáo đã đi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân từ đó đã dẫn bị cáo đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân, tiếp tay cho những đối tượng mua bán trái phép chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm. Do đó cần đưa bị cáo ra xét xử bằng pháp luật hình sự để cải tạo, giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, xong do không chịu khó tu dưỡng, rèn luyên, đua đòi, thiếu bản lĩnh nên đã mắc nghiện ma tuý rồi dẫn đến việc phạm tội. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã tiếp tay cho những đối tượng bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo là người có nhân thân xấu đã hai lần bị xử lý vi phạm hành chính và nhiều lần bị xét xử nhưng bị cáo đã không lấy đó làm bài học để nghiêm khắc sửa chữa bản thân, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội được.

Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu E ghi hoàn trả 1,820 gam mẫu E còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu L ghi mẫu lưu kho của Phan Văn H. Đây là số ma tuý còn lại sau khi giám định và vỏ bao gói mẫu, là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn giảm án phí, lệ phí tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của bị cáo Phan Văn H khai mua tại một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín, nằm bên phải hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Hà Nội đi Thái Nguyên, thuộc tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.H không xác định được người bán ma tuý choH là ai, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.

Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra quyết định tạm giam bị cáo Phan Văn H 45 (bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu E ghi hoàn trả 1,820 gam mẫu E còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu L ghi mẫu lưu kho của Phan Văn H.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 16/01/2023”.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn H phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ