- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Tr phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2023/HSST Ngày: 12/07/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thắng;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Huy Trọng;
Ông Nguyễn Bá Tuấn;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Mai Lương Sơn- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 07 năm 2023 tại Phòng xét xử trực tuyến – Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2023/TLST - HS ngày 26/06/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Tr; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1995 Tại: T1, Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Thôn Văn Xá, xã K, huyện T1, Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn Văn Xá, xã K, huyện T1, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Phạm Văn C (Đã chết); Họ tên mẹ: Trần Thị Tuyết L, sinh năm: 1975; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ 2; Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 11/01/2023, Phạm Văn Tr sinh năm 1995, trú tại thôn Văn Xá, xã K, huyện T1, TP. Hà Nội nhận được cuộc điện thoại từ một người bạn xã hội Tr khai chỉ biết tên là T với nội dung “tý có bạn anh gọi cho mày, thì mày nghe”, Tr bảo “vâng”. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày thì có số điện thoại 0383819303 gọi đến, Tr hỏi “ai đấy” thì người này nói “anh là bạn T”, Tr tiếp tục hỏi “ai đấy”, người này nói “anh bạn T đây, mày gửi cho anh số tài khoản, anh chuyển tiền cho”. Tr đọc số tài khoản 8666609106XXX tại Ngân hàng Quân đội của Tr cho người này, khoảng 10 phút sau điện thoại của Tr báo số tiền 5.100.000 đồng từ số tài khoản 0030120303XXX tại Ngân hàng Quân đội chuyển đến tài khoản ngân hàng của Tr. Sau đó người đàn ông có số điện thoại 0383819XXX tiếp tục điện thoại cho Tr nhờ Tr chuyển số tiền 4.300.000 đồng đến số tài khoản 0964163XXX tại Ngân hàng Quân đội. Sau khi Tr chuyển 4.300.000 đồng, người đàn ông có số điện thoại 0383819XXX tiếp tục gọi điện thoại cho Tr nói “tý có người điện thoại cho em hoặc nhắn tin”. Khoảng 05 phút sau, Tr nhận được được một tin nhắn thoại với giọng nữ từ một tài khoản Zalo ghi là “người lạ” gửi đến tài khoản Zalo của Tr với nội dung “vứt ở cống chui, gần chợ Tự Khoát, gần bãi rác” (T hiểu là ma túy được cất dấu ở bãi rác tại cống chui gần chợ Tự Khoát, xã H, huyện T2, đi đến vị trí đó tìm lấy ma túy). Sau đó Tr gọi điện thoại cho Nguyễn Anh T sinh năm 1996, trú tại thôn Văn Giáp, xã B, huyện T1 bảo T đi xe taxi xuống đón Tr ở cổng làng Văn Xá, xã K, không nói với T mục đích chở mình đi đâu. Khoảng 10 phút sau T lái xe taxi đến đón thì Tr lên xe bảo T “chở bạn lên cống chui gần chợ Tự Khoát”. Khi đến đầu cống chui gần chợ Tự Khoát thuộc xã H, huyện T2, Tr bảo T dừng xe đứng đợi rồi xuống xe taxi đi bộ đến đoạn cuối cống chui và tìm được một gói giấy màu trắng, bên trong chứa 08 viên nén màu nâu và 01 túi nilon bên trong chứa các tinh thể màu trắng. Tr cầm gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy lên nhét kẹp vào giữa đầu ngón chân phải và chiếc dép đang đi rồi quay lại chỗ T đỗ xe đợi. Tr tiếp tục bảo T chở đến khu Cây Sữa, thị trấn B1, huyện Th O, khi rẽ vào đường trục bê tông thì Tr bảo T “tôi xuống, bạn đi lên một đoạn đợi tôi”. Sau khi xuống xe taxi Tr đi bộ vào phía trong một ngõ nhỏ trong khu, tại đây Tr dùng chân phải đang kẹp gói ma túy vẩy mạnh để gói ma túy bắn vào lề đường sát tường thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ gói giấy màu trắng bên trong chứa 08 viên nén màu nâu, một túi nilon bên trong chứa các tinh thể màu trắng. Cơ quan Công an đã niêm phong số ma túy nói trên rồi đưa Tr về trụ sở làm việc.
* Vật chứng thu giữ:
- 08 viên nén màu nâu (T khai là ma túy loại “Kẹo”)
- 01 túi nilon bên trong chứa các tinh thể màu trắng (T khai là ma túy loại “Ke”).
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus lắp sim số 0971623XXX.
* Kết quả giám định:
Tại Kết luận giám định số 507 ngày 19/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP Hà Nội, kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine có khối lượng: 1, 175 gam.
- 08 (tám) viên nén màu nâu đều là ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng: 3,872 gam
Đối với người đàn ông có tên T, Tr khai chỉ quen biết T ngoài xã hội, không biết rõ nhân thân, lai lịch của người này và hai bên ít liên lạc với nhau nên Tr không nhớ và không lưu số điện thoại của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Tr nhưng không phát hiện được số điện thoại nào liên quan đến người đàn ông này. Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên không có căn cứ xử lý.
Đối với người đàn ông có số điện thoại 0383819303 đã gọi điện mua ma túy của Tr, Cơ quan điều tra xác định số điện thoại trên được đăng ký bởi chị Trương Thị Ngọc A, sinh năm 1990, trú tại phường V, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị A khai từ trước đến nay không sử dụng số điện thoại 0383819303 và không biết số điện thoại trên của ai. Do không có chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với số tài khoản 0030120303XXX tại Ngân hàng Quân đội đã chuyển 5.100.000 đồng vào số tài khoản của Tr để mua ma túy. Xác định số tài khoản trên do chị Phạm Thị Kim A1 sinh năm 1991 tại xã L1, huyện Đ, tỉnh Hưng Yên đứng tên chủ tài khoản. Chị Kim A1 khai từ trước đến nay không đăng ký hoặc sử dụng số tài khoản 0030120303XXX và cũng không biết ai đang sử dụng số tài khoản này. Tr khai đây là lần đầu tiên giao dịch với số tài khoản 0030120303XXX nên không biết chủ tài khoản là ai. Do không có chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với số tài khoản 0964163XXX tại Ngân hàng Quân đội được Tr chuyển 4.300.000 đồng để mua ma túy với mục đích Tr bán lại để kiếm lời. Xác định số tài khoản trên do anh Nguyễn Văn C sinh năm 1998 tại xã K, huyện T1, TP. Hà Nội đứng tên chủ tài khoản. Anh C khai từ trước đến nay chưa từng đăng ký số tài khoản ngân hàng nào và cũng không biết ai đang sử dụng số tài khoản này. Tr khai đây là lần đầu tiên giao dịch với số tài khoản 0964163XXX nên không biết chủ tài khoản là ai. Xác minh tại Ngân hàng Quân đội thì số tài khoản trên mới đăng kí tài khoản online, chưa thực hiện định danh tại quầy giao dịch, các thông tin cung cấp là do khách hàng tự đăng ký trên app MBbank. Do không có chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với tài khoản Zalo đã gửi tin nhắn thoại đến tài khoản Zalo của Tr hướng dẫn Tr đi lấy ma túy. Tr khai đây là lần đầu tiên người này nhắn tin cho Tr nên không biết người gửi tin nhắn cho mình là ai vì tin nhắn chỉ ghi là “người lạ”. Sau khi nghe được tin nhắn Tr đã xóa tin nhắn này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch của chủ tài khoản Zalo này nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Nguyễn Anh T là lái xe taxi chở Tr đi lấy ma túy và đi giao ma túy cho người mua, do T không biết Tr mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng chứa sim số 0971623XXX thu của Tr và 01 phong bì chứa ma túy hoàn lại sau giám định. Đây là vật chứng của vụ án nên chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Th O để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 26/06/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O truy tố bị cáo Phạm Văn Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Căn cứ theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung phản A của bản cáo trạng và đều tỏ ra ăn năn hối cải, xin được hưởng sự khoan hồng của Pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị áp dụng:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr từ 4 năm đến 5 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/01/2023.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn lại sau giám định được niêm phong dán kín tại các mép dán có chữ ký của Phạm Văn Tr, đồng chí Dương Văn Hoàng và chữ ký của giám định viên.
Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng chứa sim số 0971623XXX
Án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 11/01/2023, Phạm Văn Tr đã nhận số tiền 5.100.000 đồng từ số tài khoản 0030120303003 tại Ngân hàng Quân đội của một người đàn ông không quen biết để mua ma túy cho người này, sau đó Tr chuyển 4.300.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng 0964163XXX tại Ngân hàng Quân đội, mục đích để mua ma túy cho người đàn ông nói trên nhằm hưởng chênh lệch số tiền 800.000 đồng. Sau đó theo chỉ dẫn của các đối tượng không rõ nhân thân lai lịch, Tr lấy được 01 gói giấy, bên trong chứa 3,872 gam ma túy loại MDMA và 1,175 gam ma túy loại Ketamine rồi đến khu vực Cây Sữa, thị trấn B1, huyện Th O để giao số ma túy trên cho người mua nhưng chưa kịp giao thì bị bắt quả tang.
Đủ cơ sở kết luận Phạm Văn Tr phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nhất định để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo bởi lẽ: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn lại sau giám định được niêm phong dán kín tại các mép dán có chữ ký của Phạm Văn Tr, đồng chí Dương Văn Hoàng và chữ ký của giám định viên.
Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng chứa sim số 0971623XXX thu của Tr
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/07/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Th O.
Vụ án trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo tính hợp pháp của các quyết định tố tụng và đảm bảo đúng trình tự tố tụng.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
1. Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Các Điều 106, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Tr 4 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 11/01/2023
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn lại sau giám định được niêm phong dán kín tại các mép dán có chữ ký của Phạm Văn Tr, đồng chí Dương Văn Hoàng và chữ ký của giám định viên.
Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng chứa sim số 0971623XXX thu của Tr
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/07/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Th O.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt. Có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Th O; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Thắng |